Du khảo Đông Nam Á

Lạp Chúc Nguyễn Huy

DU KHẢO ĐÔNG NAM Á

VĂN HÓA VĂN LANG – ÂU LẠC

Chúng ta bắt đầu du khảo bằng viếng thăm cội nguồn văn hóa Việt trong bối cảnh Đông Nam Á. Tại đây các em sẽ tìm thấy bản sắc Việt[1] tức màu sắc nguyên thủy của người Việt thời cổ sử trước khi cộng sinh với văn hóa Trung Hoa. Đó là :

– Đời sống được mô tả trên trống đồng và thạp đồng,

– Phong tục tập quán thời Hùng Vương còn truyền lại đến ngày nay như Đạo Mẫu, lên đồng, bánh chưng bánh dầy, trầu cau, mặc váy…

1. Sắc thái văn hóa của Đông Nam Á

Là địa bàn cư trú người Indonésien và Malayo polynésien, vùng đất Đông Nam Á nằm giữa Ấn Độ – Trung Hoa. Sự hiện diện của các trống đồng cổ đào được ở Việt Nam, Lào, Miên, Thái Lan, Mã Lai, Miến Điện, Nam Dương, Phi luật Tân, Hoa Nam là ranh giới tương đối của Đông Nam Á. Vùng này cỏ có một nền văn hóa-văn minh riêng biệt ở thời tiền sử với những đặc điểm sau :

Về vật chất làm ruộng cấy lúa nước, dùng đồ kim khí thô sơ, giỏi bơi thuyền,

Về xã hội coi trọng phụ nữ, mẫu hệ,

Tôn giáo thờ vật hữu linh, thờ tổ tiên, thờ thần đất, hài cốt chôn trong chum vại,

Thần thoại liên quan đến đối lập giữa núi- sông, phi cầm- thủy tộc,

Ngôn ngữ đơn âm Mon Khme.

Trong địa bàn Đông Nam Á, văn hóa Đông Sơn của người Việt cổ thời Hùng Vương nằm ở vùng trung du, lưu vực sông Hồng, sông Mã, sông Cả (2000 – 700 tr. CN), các đặc điểm văn hóa Đông Nam Á của người Việt còn nhận được qua :

– Ngôn ngữ Việt Mường, Việt Tày,

– Họa tiết trên trống đồng, thạp đồng,

– Huyền thoại (mythologie), huyền tích (légende), tín ngưỡng (đạo Mẫu), tập tục (ăn trầu, mặc váy) …

– Nghề nông trồng lúa nước. Tiêu biểu cho văn hóa Đông Sơn của người Việt cổ là trống đồng, thạp đồng tìm thấy nhiều nhất ở vùng Phú Thọ, Thanh Hóa. Vì vậy mà khởi đầu của du khảo là đến viện bảo tàng quan sát một di sản văn hóa cội nguồn của người Việt còn được ghi lại trên trống đồng, thạp đồng.

2. Thăm viện bảo tàng

Trống đồng và thạp đồng là hai cổ vật tiêu biểu nhất cho văn hóa Đông Sơn của người Việt cổ trong vùng Đông Nam Á. Hai cổ vật này tìm thấy ở Việt Nam là của người Âu Lạc-Lạc Việt bằng cớ là :- Lịch sử có ghi việc Mã Viện đã tận thu trống đồng của các thủ lãnh địa phương để đúc ngựa, cột đồng trụ và Hậu Hán Thư thì ghi : «Dân Giao chỉ có linh vật là trống đồng, nghe đánh lên họ rất hăng lúc lâm trận.» – Hai cổ vật tiêu biểu này còn để lại dấu tích trên miền sông Hồng cho đến ngày nay là cái váy và cái khố khắc trên mặt trống đồng, lễ hội phồn thịnh biểu trưng bởi hình ảnh giao phối trên thạp đồng. Trống đồng Trống đồng vừa là nhạc khí vừa là biểu tượng quyền lực, tín ngưỡng, đời sống kinh tế, văn hóa… của người Việt cổ.

Trống đồng Ngọc Lũ

Dựa vào truyền thuyết và các hình chạm họa tiết trên đồ đồng như mặt trống Ngọc Lũ[2], một số nhà khảo cứu đã đưa ra những giả thuyết về tín ngưỡng tiền tam giáo của người Việt như sau.

Theo Madeleine Colani, người Việt xưa thờ Mặt Trời[3]. Các hình chạm trên mặt trống đồng thời Hùng Vương chứng tỏ điều đó : giữa mặt trống là hình Mặt Trời tỏa tia sáng để vạn vật (người, nhà, chim, súc vật…) quay chung quanh. Mặt Trời được coi như Thượng Đế, cha sanh muôn loài.

Tráí lại, H.Q.Quaritch Wales cho rằng hình chạm trên trống đồng Ngọc Lũ, Hoàng Hạ biểu tượng cho đạo chaman của người Việt cổ xưa[4]. Hiện nay, đạo chaman[5] còn tồn tại ở vài nơi trong vùng Đông Nam Á như dân Torajas trên đảo Célèbes (Indonésia) hoặc còn để lại vết tích ở nhiều dân tộc khác. Dựa vào nhận xét đó, H.Q.Quaritch Wales giải thích như sau :

– Đoàn người đội mũ lông chim không phải là đoàn vũ công biểu tượng vật tổ Chim Hồng như giả thuyết của Goloubew và Karlgren, mà đó là những chaman cầm giáo sua đuổi ma quỉ và đi tìm hồn người bệnh. Giả dạng chim trong tín ngưỡng là việc thường gặp ở các giống dân Batak (Sumatra), Dayak (Bornéo);

– Ngôi sao giữa mặt trống đồng không phải là mặt trời theo như giả thuyết của M. Colani, mà đó là sao bắc đẩu để vạn vật quay chung quanh như thường gặp trong tín ngưỡng Á Châu;

-Hình thuyền chạm ở thân trống đồng là những thuyền của chaman dùng để đi tìm hồn người bệnh hay dắt dẫn hồn người mới chết giống như các chaman hiện nay ở Indonésia dùng cầu vồng, chim, nai để chuyên chở hồn.

Đời sống kinh tế : nông nghiệp với họa tiết giã gạo;

Y phục : Áo hai vạt ngắn hoặc hai vạt dài[6], đàn ông đóng khố cạo tóc hay búi tóc, đàn bà mặc váy (váy lông chim hay lá kết cho lễ hội), đội mũ lông chim[7].

Nhà ở : người Việt cổ cất nhà sàn mái tròn và nhà sàn mái võng cong hình thuyền.

Kỹ thuật : Luyện kim đúc trống đồng, thạp đồng.

Văn học dân gian : Truyền thuyết thần thoại.

Âm nhạc: trống đồng cầu mưa[8] và khèn bầu là hai sáng tạo âm nhạc đặc thù của văn minh Đông Sơn.

Thạp đồng Sau trống đồng, chúng ta đi xem thạp đồng Đào Thịnh có niên đại khoảng 2500 năm cách ngày nay, tìm thấy ngày 14/9/1961 tại xã Đào Thịnh, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái[9]. Thân thạp được trang trí bằng hoa văn, thuyền, người hóa trang lông chim, cá sấu… rất giống với họa tiết trên trồng đồng Đông Sơn, Ngọc Lũ, Hoàng Hạ, Cổ Loa…Điểm đặc biệt nhất là tín ngưỡng « phồn thực » (Phồn::nhiều, thực::nảy nở) được diễn tả trên nắp thạp đồng Đào Thịnh bởi 4 khối tượng, mỗi khối là một đôi nam nữ giao hợp, trai xõa tóc, có dao găm đeo ngang hông và đóng khố; gái thì bận váy ngắn. Tín ngưỡng phồn thực có mục đích cầu mong sự sinh sôi nảy nở của con người và tạo vật, lấy dương vật, âm vật, giao cấu trai gái làm biểu tượng.



Thạp đồng Hòa Thịnh: tượng giao cấu và họa tiết

3. Thăm di tích văn hóa thời Hùng Vương

Tín ngưỡng và phong tục hời Hùng Vương còn truyền tụng đến bây giờ là:

Thờ thần linh,

đạo Mẫu,

bánh chưng bánh dầy,

trầu cau, nhuộm răng đen,

cái váy…

Thần linh giáo

Thần linh giáo[10] là tín ngưỡng tiền phật giáo đặc thù cổ xưa nhất của người Việt còn sót lại vì người Việt tin rằng sau khi chết linh hồn vẫn tồn tại ở thế giới bên kia[11]. Thí dụ như nay còn thờ thần linh anh hùng dân tộc Phù Đổng Thiên Vương, Chữ Đồng Tử, Tản Viên,

Tại Bắc Ninh, thờ Tứ Pháp (bốn vị nữ thần : Mây, Mưa, Sấm, Chớp) vẫn còn di tích tại bốn ngôi chùa cổ (nguyên là đền) ở vùng Dâu : chùa Dâu thờ Pháp Vân, chùa Đậu thờ Pháp Vũ, chùa Tướng thờ Pháp Lôi, chùa Dàn thờ Pháp Điện tại Bắc Ninh, được xây dựng vào thế kỷ III, nằm ở vùng Dâu, thời thuộc Hán gọi là Luy Lâu.

4. Đạo Mẫu

Trong các tín ngưỡng thời Hùng Vương còn sót lại đến ngày nay thì chỉ có Đạo Mẫu với nghi thức lên đồng là theo chân người Việt tỵ nạn ra cả ở hải ngoại. Năm 1954, Hội Bắc Việt tương tế của « Bắc Kỳ di cư» đã đem theo Đạo Mẫu vào Sài Gòn thờ trong đền Phủ Giày Vọng Từ xây ở Gia Định.

Sau biến cố 1975, cũng vẫn các lưu dân người « Bắc » đã « di cư » các Mẫu ra hải ngoại, thí dụ điện thờ Mẫu tại số 6681 đường Chabot thành phố lớn Montréal, Gia nã Đại[12], đền thờ Đạo Mẫu và Đức Thánh Trần tại Houston Hoa Kỳ, trên đường Emmora Lane, còn về diện thờ Mẫu tại Pháp thì đọc Simon, P.J et Simon-Barouh [13].

Dấu tích thời Hùng Vương

Đạo Mẫu được tổ chức thành Tam Phủ, Tứ Phủ, mỗi phủ dưới quyền một Thần Chủ tức Mẫu. Dưới mỗi phủ có :Ngũ vị quan lớn, Tứ vị chầu bà (hóa thân trực tiếp của tứ vị Thánh Mẫu), Ngũ vị hoàng tử, Thập nhị vương cô, Thập vị vương cậu, Ngũ hổ, Ông Lốt (rắn). Trong bốn vị Thần Chủ thì có hai vị nguồn gốc từ thời Hùng Vương, đó là :

– Nhạc phủ thuộc Mẫu Thượng Ngàn (màu xanh) là một công chúa thời Hùng Vương, trông coi núi rừng;

-Thoải (thủy, nước) phủ cai quản bởi Mẫu Thoải (màu trắng) con của Long Vương ở Động Đình Hồ,

Nghi lễ của Đạo Mẫu : lên đồng, hầu bóng

Lên đồng :Thần linh cưỡi lên thể xác của đồng nhi.

Hầu bóng : bóng là hồn của thần linh nhập vào, hầu : người hầu hạ cái bóng đó.

Hầu bóng là sân khấu tâm linh của dân gian có kèm theo nhạc và cung văn, múa, phát lộc.

Người điều khiển là bà đồng làm tái hiện sự tích và hoạt động của thần linh.

Người tham dự là con nhang, đệ tử, tín đồ đến cầu thần linh độ trì đời sống hàng ngày, xin lộc, xin lời phán truyền.

Người đứng giá hầu đồng gọi chung là thanh đồng nam (gọi là cậu) và nữ (gọi là cô hoặc bà đồng). Thường có 2 hay 4 phụ đồng (gọi là nhị trụ hoặc tứ trụ hầu dâng) đi theo thanh đồng để trang bị lễ lạt, trang phục…Trong một buổi lên đồng thì có rất nhiều «giá». Mỗi lần thay giá, người ta phủ lên cậu một tấm khăn lụa đỏ, sau đó bỏ ra và lúc này thanh đồng đang ở một giá mới và phải thay bộ trang phục xống áo, khăn chầu, cờ quạt, đồ hầu dâng… sao cho phù hợp với giá này. Nghi lễ thánh giáng phải theo thứ tự từ cao xuống thấp từ thánh mẫu, đến hàng quan, chầu, ông Hoàng, hàng cô cậu.

Thực hành thờ Mẫu chủ yếu qua truyền khẩu và thị phạm từ người này qua người khác nên nhận thức thánh thần một cách tự nhiên không cần một triết lý tôn giáo, lý giảng nào cả. Về bản chất, các Mẫu làm đấng bảo trì cho sức khỏe, sung túc vật chất cho con người, là nơi ký thác những mong ước, khát vọng về đời sống trần thế (tiền tài, sức khỏe, tài lộc, quan tước), là cơ hội gặp gỡ giữa con người và thần linh hòa hợp với nhau. Đây là nghi thức giao tiếp với thần linh qua bà đồng hay ông đồng và tin rằng thần linh nhập hồn vào thân xác ông đồng hay bà đồng nhằm phán truyền, diệt trừ tà ma, chữa bệnh, ban phúc, ban lộc cho các con nhang, đệ tử. Khi thần linh giáng đồng thì lúc đó ông đồng là hiện thân của vị thần linh giáng đồng. Cho nên khi dự buổi hầu bóng tại số 6681 đường Chabot ở Montreal[14], chúng tôi đều cảm thấy Thần linh và tín đồ tạo nên không khí giao cảm và đồng cảm trong trạng thái tâm linh .


5. Trầu cau

Trên đương du khảo trên quê hương, các em sẽ nhìn thấy một sắc thái văn hóa Đông Nam Á của thời Hùng Vương còn tồn tại cho tới ngày nay là tục ăn trầu. Bên Trung Hoa không có trầu cau nên đã phải phiên âm tiếng Đông Nam Á để gọi cây cau là bin lang 檳榔 đọc sang Hán Việt tân lang. Bin lang là tiếng Việt cổ cũng như tiếng Êdê gọi cây cau là pnang, mnang, tiếng Mường gọi là nang[15].

Tục ăn trầu khi cưới hỏi, tiếp đãi khách được ghi trong Nam châu bát quận chỉ và Nam phương thảo mộc trạng (thế kỷ III) và được giải thích trong một truyện cổ tích thời Hùng Vương thứ sáu[16]. Từ đó, trong đời sống văn hóa của người Việt, trầu cau ẩn tàng một triết lý tình nghĩa vợ chồng, triết lý vô ngôn trong đạo lý ứng xử bạn bè, cưới hỏi, tế lễ, lễ thọ, lễ mừng…

Khẩu trầu

Các dụng cụ của ăn trầu là dao bổ cau xẻ lá, khay trầu, bình vôi, cối giã trầu (cho người già), ống nhổ …

Trầu thì có trầu quế, trầu hồi, trầu cay, trầu hôi; cau thì có cau tươi, non, già, khô[17] . Mỗi khẩu trầu là một lá trầu xanh, quệt chút vôi, một miếng cau một lát vỏ mỏng của cây chay. Khẩu trầu cho vị ngọt của cau, cay cay thơm thơm của lá trầu (tinh dầu trong lá trầu), chát chát của hạt và vỏ (tanin), vị nồng của vôi. Tất cả trộn lẫn với nhau cho cảm giác nong nóng, đầu hơi choáng váng, say say vì hạt cau có chất arecoline kích thích thần kinh. Nếu đệm thêm quế, thuốc lào (trầu thuốc) thì sẽ làm say say, bớt lạnh, hồng đôi má, thêm duyên, câu truyện cởi mở, khí huyết lưu thông.

Muốn có miếng trầu ngon thì phải biết kén chọn nơi cung cấp thí dụ như các bà ở Huế thì :

Mua vôi chợ Quán chợ Cầu,

Mua cau Nam Phổ mua trầu chợ Dinh.

Trầu chợ Dinh với cau Nam Phổ,

Non vôi cũng đỏ, thiếu vỏ cũng ngon.

Khẩu trầu

Mùi vị của trầu

Ăn trầu để thưởng thức vị cay, thơm của lá trầu, vị chát của vỏ chay, vị ngọt bùi của cau, vị nồng của vôi… hòa quyện với nhau cho ra mầu đỏ sẫm

Tách riêng thì đắng thì cay,

Hòa chung thì ngọt, thì say lòng người.

Tách riêng xanh lá, bạc vôi.

Hòa chung đỏ thắm máu người lạ chưa.

Biểu tượng tình nghĩa vợ chồng: màu đỏ

Nhìn miếng trầu têm, màu sắc xanh (vỏ cau, lá trầu), trắng (thịt cau, vôi), vàng tươi (hạt) tổng hợp 3 mầu khi nhai thì cho một nước đỏ tươi. Màu đỏ của quít trầu[18] là biểu hiệu cho hạnh phúc, cho tình nghĩa keo sơn vợ chồng.

Có phải duyên nhau thì thắm lại,

Đừng xanh như lá, bạc như vôi. (Hồ Xuân Hương)

Têm trầu

Têm trầu là cả một sự khéo léo rất mỹ thuật như trầu cánh kiến, cánh quế, mũi mác. Cách têm trầu mang dấu ấn văn hóa vùng, miền thí dụ cách têm trầu cánh phượng là nói đến miếng trầu vùng Kinh Bắc biểu trưng liền chị-người gái quê Kinh Bắc. Trầu têm cánh phượng têm bằng cau tiễn chũm lòng đào, chọn lá trầu quế vừa tầm để tỉa cánh phượng, chọn vỏ đỏ dày để trang trí phần đuôi (thêm miếng vỏ, cánh hoa hồng cho đẹp, tạo thành đuôi phượng). Trầu cánh phượng được bày trên đĩa có tình cách trang trí, hoặc đầu cau gắn vào một que tre dài 20cm cắm trong lọ hoặc ly thủy tinh (bên trong đựng gạo).

Trầu têm cánh phượng (trầu cô Tấm) là hình ảnh đẹp gợi truyện cổ tích Tấm Cám về ông hoàng tử đi qua quán nước, bà lão mang trầu, nước dâng hoàng tử. Hoàng tử nhìn thấy trầu têm cánh phượng là sáng tạo của vợ hoàng tử ngày trước nên hoàng tử nhận ra được người têm trầu là Tấm, vợ ngày trước của hoàng tử.

Trầu têm cánh phượng xinh xinh,

Chở trao cho thắm môi mình, lòng say.


Trầu têm cánh phượng, Khay trầu

Ngôn ngữ trầu cau trong hôn lễ

Mâm trầu cau mang tính ước lệ, biểu trưng cho một nét phong tục tập quán đẹp từ thời tiền sử. Trong lễ cầu hôn, chạm ngõ, cưới hỏi, nghi thức bắt buộc của người xưa cũng như nay là mang trầu cau đến nhà gái, và nhận trầu cau là siêu ngôn ngữ của sự nhận lời. Theo nhà nghiên cứu văn hóa Trương Ngọc Tường, tỉnh Tiền Giang, khay lễ trầu cau dùng trong đám hỏi, đám cưới làm sính lễ là cái khay vuông gọi khay trầu rượu, trong đó có 2 cái hộp, cái lớn tượng trưng cho chồng, cái bé cho vợ, trong khay có hai cái chung (chén). Trong lễ chạm ngõ ngoài Bắc, lễ vật là vài gói trà, vài chai rượu, một nhánh cau, xấp lá trầu (tất cả phải là số chẵn). Trong Nam thì trà rượu, bánh mứt, một khay lễ trên bầy hai chung rượu, 1 nậm rượu, 1 cơi trầu têm sẵn 4 miếng để mời anh chi sui.

Lễ vật của lễ ăn hỏi là trầu cau, rượu trà, cặp đèn cày làm lễ gia tiên. Nhà gái chia phần trầu cau, bánh kẹo với họ hàng.

Mâm trầu cau gồm một buồng cau nõn 105 trái tượng trưng cho 100 năm hạnh phúc hay 60 quả theo ví von 60 năm cuộc đời hạnh phúc; mỗi quả cau đi kèm hai lá trầu xanh nguyên cuống vẹn đuôi cho có đôi.

Mâm trầu cau

Ngôn ngữ giao tế

Trong giao tế hàng ngày, «Miếng trầu là đầu câu chuyện» đi đôi với lời chào, đón khách nên người xưa đi đâu cũng có túi trầu, gặp nhau là mời trầu là cách giao tiếp đặc thù của người Việt từ thời Hùng Vương.

Gặp đây ăn một miếng trầu,

Chẳng ăn cầm lấy cho anh bằng lòng.

Xưa kia có biết ai đâu,

Chỉ vì điếu thuốc, miếng trầu nên quen.

Gặp nhau ăn một miếng trầu,

Gọi là chút nghĩa vế sau mà chào.

Từ ngày ăn miếng trầu anh,

Cho nên má đỏ, tóc xanh đến giờ.

Miếng trầu ăn nặng bằng chì,

Ăn rồi em biết lấy gì đền anh.

Ngôn ngữ của têm trầu

Ngày xưa đi xem mặt nàng dâu, nhà trai đòi cô gái ra têm trầu để phán đoán phong cách tính nết, nền nếp giáo dục gia đình. Nhìn miếng trầu biết được tính nết người têm, giản dị hay cầu kỳ, đậm đà hay nhạt nhẽo do lượng vôi bôi trên lá (quệt nhiều vôi là tính hoang phí), đậm quế thơm cay, trầu nhỏ cau to (không biết tính toán).

Ngôn ngữ tỏ tình

Miếng trầu tỏ tình bắt đầu bằng

Vào vườn hái quả cau tươi,

Bổ ra làm sáu mời anh xơi trầu.

Rồi cô gái mời chàng ăn trầu với ý nghĩ thầm kín là:

Trầu này trầu tính, trầu tình,

Ăn vào cho đỏ môi mình, môi ta.

Trầu này trầu tính trầu tình,

Trầu loan, trầu phượng, trầu mình lấy ta.

Miếng trầu giao duyên

Miếng trầu thì phải có lá trầu quệt vôi, miếng cau mới hòa quyện làm nên cái mùi vị thơm cay, cái hơi men nóng bừng, cái sắc đỏ đẹp tươi biểu trưng cho tình nghĩa vợ chồng.

Trâu này thực của em têm,

Trầu phú, trầu quí, trầu nên vợ chồng.

Trầu này bọc khăn tơ hồng,

Trầu này kết nghĩa loan phòng từ đây.

Miếng trầu ăn kết làm đôi,

Lá trầu là vợ, cau tươi là chồng.

Trầu bạn, trầu tình

«Khẩu trầu dải yếm» là miếng trầu được « ém » trong dải yếm đem ra mời người tình.

Khi chàng trai hợp nhãn đến chơi thì cô gái mời trầu để mở đầu câu chuyện:

Trầu em têm tối hôm qua,

Cất trong dải yếm mở ra mời chàng.

Nàng có 3 loại trầu : trầu túi (trầu đựng trong túi), trầu khăn (trầu gói trong khăn), trầu dải yếm (trầu ém trong dải yếm) và hỏi chàng rằng :

Trầu này trầu túi, trầu khăn,

Cùng trầu dải yếm anh ăn trầu nào ?

Nếu chàng trai chọn trầu trong túi trong khăn tức ẩn ý chỉ là bạn hữu. Nếu chàng trai chọn trầu dải yếm tức khẩu trầu dải yếm có nghĩa đã thuận tình nhau mong cùng nàng kết nhân duyên thì cô gái mở gói trầu buộc ở dải yếm đem ra mời chàng. Ăn xong miến trầu thì nàng mới hỏi :

Trầu em buộc dải yếm đào,

Hỏi người tri kỷ ăn vào có say?

Từ ngày ăn phải miếng trầu,

Miệng ăn môi đỏ, dạ sầu đăm chiêu.

Một thương, hai nhớ, ba sầu,

Cơm ăn chẳng được ăn trầu cầm hơi.

Ngôn ngữ tình cảm của trầu yêu, trầu ghét

Cậu trai mời trầu mà cô gái không nhận thì trách móc:

Đi đâu cho đổ mồ hôi,

Chiếu trải không ngồi, trầu để không ăn.

Là vì nhận trầu của cậu trai là tỏ ý ưng thuận theo triết lý vô ngôn của ăn trầu:

Thưa rằng bác mẹ tôi răn,

Làm thân con gái chớ ăn trầu người.

Miếng trầu ăn nặng bằng chì,

Ăn rồi em biết lấy gì đền ơn.

Tình cảm yêu hay ghét được bày tỏ bằng cách bổ cau:

Yêu nhau cau sáu bổ ba,

Ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười.

Thi nhân cũng lấy trầu cau để bày tỏ tương tư:

Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông,

Cau thôn Đoài nhớ trầu không thôn nào? [Thơ Nguyễn Bính]

Yêu nhau mà không lấy được nhau thì chẳng khác gì:

Có trầu, có vỏ, không vôi,

Có chăn, có chiếu, không người nằm chung.

Yêu nhau chẳng lấy được nhau,

Con lợn bỏ đói, buồng cau bỏ già.

6. Bánh chưng bánh dầy

Dù ai buôn bán đâu xa,

Năm năm nhớ lấy tháng Ba mồng mười

(Giỗ tổ Hùng Vương)

Ở hải ngoại, vào ngày Tết, chúng ta vẫn có tục cúng tổ tiên bằng bánh chưng, bành dầy truyền lại từ thời Hùng Vương. Câu truyện truyền tích về bánh chưng, bánh dầy được kể như sau : Vua Hùng Vương thứ sáu đã phá giặc Ân rồi, muốn truyền ngôi cho con, bèn hội hai mươi hai Quan Lang lại, bảo rằng : Các con, con nào tìm được trân cam, mỹ vị để cuối năm tế Tiên Vương cho hết đạo hiếu thì ta truyền ngôi cho.Các con thi nhau đi tìm của ngon vật lạ. Duy người con thứ mười tám tên là Tiết Liệu, vì mẹ mất sớm không ai giúp đõ, ngày đêm lo lắng không biết làm thế nào bỗng nằm mông thấy thần nhân đến bảo rằng : Vật trong trời đất không gì quí bằng gạo, gạo là thức ăn nuôi sống người. Nên lấy gạo làm bánh, hoặc làm tròn hoặc làm vuông, để tượng hình trời đất. Lấy lá bọc ngoài, đặt nhân trong ruột để tượng hình cha mẹ sinh thành… Tỉnh dậy, ông Tiết Liệu bèn chọn gạo nếp thật tốt, gói làm bánh vuông để tượng hình Đất, bỏ chõ chưng chín gọi là bánh chưng. Lại giã xôi làm bánh tròn để tương hình Trời, gọi là bánh dầy… Đến ngày hẹn các ông Quan Lang đều đem cỗ đến…Tiết Liệu chỉ có bánh chưng và bánh dầy : Vua lấy làm lạ hỏi, ông đem thần mông tâu vua. Vua nếm bánh thấy ngon, khen ngợi hồi lâu, bèn truyền ngôi cho Tiết Liệu. Từ đó năm nào Tết đến cũng làm bánh chưng bánh dầy cúng tế. Dân gian bắt chước theo. (Theo Việt Sử Đại Toàn, bản dịch của Trúc Sơn Mai Đăng Đệ).

Theo câu truyện bánh chưng, bánh dầy thì đời sống thời Hùng Vương có đặc điểm sau :

Về kinh tế, dân sống về trồng lúa là căn bản,

Về chính trị, khác với Trung Hoa là vua truyền ngôi cho con thứ,

Về tín ngưỡng, đồ cúng trong các dịp tế lễ thần thánh thời Hùng Vương thì người Giao Chỉ có tín ngưỡng phồn thực (thờ dương vật và âm vật) nên «chắc chắn» có một loại bánh chưng trụ tròn tượng nam tính[19] (giống bánh tét) còn tồn tại ở Cổ Loa (cố đô Âu Lạc), bánh dầy dẹt tượng âm tính[20] biểu tượng cho tín ngưỡng phồn thực. Sau khi hấp thụ văn hóa Trung Hoa, bánh chưng trụ tròn đổi sang hình vuông[21] rồi bánh chưng bánh dầy lấy ý niệm Trời tròn Đất vuông (Thiên viên, Địa phương) để giải thích. Đó là cách hội nhập tư tưởng triết lý Đạo Lão vào tập tục của người Việt.

 

CHÚ THÍCH

  1. Bản (本) là gốc là của mình; sắc (色) là màu sắc vật có hình tướng thấy được. Bản sắc (本色) là màu sắc nguyên thủy của người Việt, là dấu chỉ, là cơ sở định vị (localisation) nền tảng văn hóa người Việt cổ.

  2. Trống đồng Ngọc Lũ tìm thấy ở Hà Nam vào khoảng 1739- 1765, năm 1902 viên Viễn Đồng Bác Cổ mua lại lưu trữ ở Hà Nội

  3. Colani, Madeleine, Vestige d’un culte solaire en Indochine, B11 EH, III, 1940, fasc.1, tr. 37-41

  4. H.Q.Quaritch Wales, Prehistory and religion in South East Asia, London, Bernard Quaritch Ltd, 1957, chap. 3, tr.48-56

  5. Chaman là một tu sĩ, thày pháp và thày thuốc chuyên chữa bệnh về linh hồn. Khi hành lễ, chaman có phép xuất hồn khỏi xác phàm, hồn bay lên trời, chui xuống địa ngục, tếp xúc với các thần, vượt qua các nẻo đi tìm hồn người bệnh đang sống ở trần thế để chữa trị cho người này.

  6. Theo sử Trung Hoa thì tứ di tả nhậm. Tứ di là Bắc Địch, Nam Man, Đông Di, Tây Nhung. Tầu ở giữa Tứ Di nên gọi là Trung Hoa. Aó người Việt( Nam Man) cài nút bên trái (tả nhậm)

  7. Theo Đào Duy Anh, Lạc Việt là giống chim Lạc là một giống chim hậu điểu về loài ngỗng trời trở thành vật tổ và totem cho bộ lạc như trên trống đồng Ngọc Lũ .“Hậu điểu” (鳥) chim mùa. Chim nhạn, mùa thu lại, mùa xuân đi, cho nên gọi là “hậu điểu”

  8. Ngày nay, người Mường, Tày dùng dùi gỗ cong bịt vải đành vào giữa mặt trống vang lên như tiến sấm hoặc cầm hai bó tre để đứng và buông nhẹ xuống rìa mặt trống nghe như tiếng hạt mưa rơi

  9. Trong tổng só thạp đồng 250 chiếc tìm được thì 235 ciếc tìm được trên mảnh đất Việt Nam. Thạp dùng đựng lúa gạo, xương tro người chết

  10. Tín ngưỡng thần linh hoàn toàn dựa trên sự hiển linh của linh hồn người đã khuất và nó tự hủy diệt khi sự hiển linh không còn được chứng nghiệm nữa. Thí dụ như trong tín ngưỡng Đạo Mẫu qua nghi thức hầu bóng, lòng tin của tín đồ biến thiên thuận theo nhịp độ và cường độ hiển linh giáng đồng của mỗi thánh. Nếu không có hiển linh giáng đồng của thánh thì tín ngưỡng hầu bóng sẽ không còn tồn tại đến ngày nay. Vậy, khi con người cảm nhận, chứng kiến sự hiển linh của linh hồn rồi bắt đầu tin và tôn thờ linh hồn ấy là lúc bắt đầu hình thành thần linh giáo của người Việt.

  11. Cadière, Léopold, Croyances et pratiques religieuses des vietnamiens, 3 volumes, 1e édition, Ha Noi, 1944; Durand, Maurice, Techniques et panthéon des médiums vietnamiens (đồng), Paris, EFEO, 1959, vol. XLII, tr. 45

  12. Lạp Chúc Nguyễn Huy, Le Lên Đồng trong Documents de recherche, Laboratoire de recherches anthropologiques, No 7, Mars 1990, pp. 21-34

  13. Simon, P.J et Simon-Barouh, 1970. Hau Bong, Un culte vietnamien de possession transplanté en France, Paris, Mouton

  14. Năm 1986, chúng tôi hướng dẫn nhóm khảo cứu người Đông Dương của Đại Học Laval đến quan sát và khảo cứu hầu bóng tại điện thờ này

  15. Cây trầu 扶留 bu liu phiên âm từ tiếng đọc blu bliu hay bù liu

  16. Truyện tích của Trần Thế Pháp trong Lĩnh Nam Chích Quái được biên soạn khoảng năm 1370. « Hùng Vương thứ tư có hai anh em rất thương yêu nhau. Người anh là Tân lấy vợ rồi thì ít thương người em nên Lang bỏ nhà ra đi đến bên bờ suối thì chết vì mệt rồi hóa thành tảng đá vôi. Người anh đi tìm em rồi cũng đến bờ suối và chết vì mệt rồi hóa ra cây cau bên tảng đá vôi. Vợ Tân cũng bỏ đi tìm chồng, đến bên bờ suối tựa vào cây cau mà chết. Đi tuần qua đó nghe câu chuyện này, vua Hùng dạy cho dân Việt hãy dùng ba thứ vôi, cau và trầu làm biểu tượng tình nghĩa thắm thiết anh em, vợ chồng». Tục ăn trầu là có thực từ thời Hùng Vương được chép trong sách sử xưa. Trong cách cấu trúc câu truyện trầu cau được kể lại thì có những danh từ Hán Việt chỉ mới có vào thời đô hộ như tên hai anh em là Tân và Lang, nếu ghép hai chữ Tân lang (檳榔) lại thì nghĩa là cây cau. Tập tục tình nghĩa vợ chồng, anh em của đạo Khổng mới du nhập sau này. Đó là một sắc thái của sự đồng hóa văn hóa với Trung Hoa. Từ cậu truyện trong Lĩnh Nam Chích Quái nhiều người đã thêm bớt thành nhiều bản hơi khác nhau.

  17. Ca dao tả thời gian cau đơm hoa kết trai.

    Đầu rồng đuôi phượng te te,

    Mùa đông ấp trứng, mùa hè nở con

  18. Theo giải thích của Thúc Nguyên: Với phản ứng trên những polyphénols thuộc nhóm flavone của lá trầu và miếng cau bằng cách o-xít hóa chúng và biến chúng thành orthoquinones. Sự việc này làm cho nước bọt của người nhai trầu thành đỏ. GS Thái Công Tụng thì giải thích: lá trầu có chất sắt, khi quệt vôi (Ca(OH)2) vào thì trở nên kiềm làm pH cao hơn. Chất sắt của nước lá trầu trong môi trường kiềm nên đổi thành mầu đỏ.

  19. Vào dịp Tết và Lễ Hội Cổ Loa (cố đô Âu Lạc) ngày 6 tháng Giêng có món ăn dân gian là bánh chưng gói theo kiểu bánh tét trụ tròn. « Chết thì bỏ con bỏ cháu, Sống thì không bỏ mồng Sáu tháng Giêng ». Toàn dân Cổ Loa còn có tục « Ăn sêu bà chúa » tức ăn trưa món bún ngan (Lông ngỗng Mỵ Châu) ngày 13 tháng Tám

  20. Ở Hà Tây, người dân còn làm Bánh Dì (dầy) có nhân đậu xanh giã nhỏ và bánh chưng có hình tròn giống bánh tét.

  21. Ở Quảng Đông, Quảng Tây và Tứ Xuyên cũng có loại bánh chưng vuông gọi là Tr’ung ping làm để cúng tổ tông ngày Tết, Nguyễn thị Bảy, Trần quốc Vượng, Văn hóa ẩm thực Việt Nam, Từ điển bách khoa và Viện Văn Hóa, Hà Nội, 2010,tr.149