2. Nguồn đa dạng thực vật Việt Nam

2. Nguồn đa dạng thực vật Việt nam

Nguyễn Lương Duyên

Nhìn qua lịch sử địa chất vùng Đông Nam Á, Việt nam nằm trên mảng địa chất bền vững, không bị băng hà bao phủ, không bị chìm ngập dưới đại dương. Những điều này giúp cho hệ thực vật có điều kiện phát triển, tiến hoá và tiếp nhận để hình thành hệ thực vật Việt nam phong phú vào hàng nhất nhì thế giới.

Trung Tâm Dữ Liệu Thực Vật Việt ghi nhận như sau: hệ thực vật Viêt Nam có 19.357 loài trong đó 600 loài Nấm, 368 loài Vi khuẩn lam (Cyanophyta), 2176 loài Tảo (Algae), 793 loài Rêu (Bryophyta), 2 loài Khuyết lá thông (Psilotophyta), 57 loài Thông đất (Lycopodiophyta), 2 loài Thân đốt (Cỏ tháp bút – Equisetophyta), 691 loài Dương xỉ (Polypodiophyta), 69 loài Hạt trần (Pinophyta) và 13.000 loài Hạt kín (Magnoliophyta).

Hệ thực vật của Việt nam là nơi hội tụ của các loài phát sinh bản địa, có tiếp nhận và phát tán cung cấp các loài với các hệ thực vật ôn đới vùng Hoa nam-Himalaya ở phía Bắc, hệ thực vật Mã lai-Nam dương ở phía Nam và hệ thực vật vùng khô Ấn độ-Miến điện phía Tây. Theo Nguyễn Nghĩa Thìn, hiện tại loài bản địa chiếm 20% số loài, chi đặc hữu chiếm 3%. Có lẽ hệ thực vật Việt nam định hình từ cuối kỷ Neogen, cách nay khoảng 5 triệu năm, lúc rừng nhiệt đới toàn cầu chỉ còn là một đai hẹp quanh xích đạo. Việt nam cũng có thể là cái nôi và là trung tâm di cư cho những thực vật hạt kín trong vùng từ thế Miocen cách nay độ 30 tới 10 triệu năm.

Wikipedia trong mục “Lịch sử Địa chất Việt nam” nhận định cách nay 3 triệu năm: Rừng thường xanh ẩm ướt có thể đã tồn tại dai dẳng trên sườn đông của dãy Trường Sơn mặc dù các dao động khí hậu là đột ngột một cách nhanh chóng. Các rừng mưa nhiệt đới này có thể cung cấp nơi cư trú cho các loài phụ thuộc vào rừng trong các thời kỳ lạnh hơn, khô hơn, mang tính chất mùa rõ nét hơn. Với kích thước lớn như vậy, mà môi trường sinh

sống dọc theo nó có thể mở rộng hay co lại theo thời gian, có thể giúp giải thích tại sao, thậm chí trong vườn địa đàng của sự đa dạng sinh học như vậy của Việt Nam, mà dãy Trường Sơn vẫn lộng lẫy hơn phần còn lại của đất nước này

Tuy không phải là đa dạng hàng đầu ở Đông nam Á, nhưng rừng Việt nam có nhiều khu vực cũng có số loài lên đến trên 200 loài/ha.

•Vài loài đặc hữu của Việt nam:












•Hệ thực vật ôn đới phía bắc, Hoa nam-Himalaya, cung cấp cho Việt nam các loài cây ôn đới, có lẽ từ khoảng đầu thế Miocen, cách nay độ 20 triệu năm. Những loài này gồm có các loài Hạt trần (Thông, Du sam, Pơ mu, Thông tre…), cây họ Dẻ-Sồi (Fagaceae), họ Cáng lò (Betulaceae), Họ Phong (Aceraceae), họ Lài (Oleaceae), họ Hồ đào (Juglandaceae), họ Đỗ quyên (Ericaceae)…





Các loài di cư đén từ phía bắc thường chiếm những vùng núi vừa và cao. Một vài loài tiêu biểu:







•Hệ thực vật nhiệt đới phía Nam, Mã lai-Nam dương, cung cấp chính yếu là các cây họ Dầu (Dipterocarpaceae) cho rừng Việt nam. Họ Dầu gồm những cây gỗ lớn, cao 25-40m, thường là cây tầng nhô hay chính của rừng, lá rộng thường xanh hoặc rụng lá theo mùa để thích ứng với mùa khô. Cây họ Dầu thường là thành phần ưu thế của rừng nơi thấp và cao trung bình ở dãy Trường sơn phía Nam, ẩm hay khô. Trung tâm phát sinh họ Dầu là Borneo, Nam dương. Những hoá thạch cho thấy họ Dầu có thể di cư tới Việt nam khoảng thế Pliocen thuộc kỷ Neogen, cách nay độ 3 triệu năm, khi mực nước biển thấp hơn hiện nay cả trăm mét. Tại Borneo, họ Dầu có mặt từ 0 đến 1,300m, và có 13 chi, 276 loài. Tại Việt nam họ Dầu có 6 chi với 46 loài. Có hai loài là Chai lá phảng (Shorea falcata) và Sao lá tim (Hopea cordata) là loài đặc hữu của Việt nam. Trên thế giới, họ Dầu có thể có 15- 19 chi và trên 600 loài, tuỳ tác giả. Chi Hopea (Sao) có trên 100 loài, chi Dipterocarpus (Dầu) có 70 loài, chi Vatica (Táu) có 65 loài. Một












số cây họ Dầu quen thuộc ở Việt nam:







•Hệ thực vật Ấn độ-Miến điện cũng góp phần đáng kể vào thực vật chúng Việt nam. Số họ thực vật vùng này phong phú nhanh chóng từ đầu thế Oligocen (Tiệm tân) cách nay khoảng 35 triệu năm, sau khi tiểu lục địa Ấn độ kết liền với khối lục địa Á-Âu. Hệ thực vật Ấn-Miến chắc cũng tiếp nhận các loài di cư từ phía Đông và phía Đông Nam Á với sự hiện diện của họ Dầu (Dipterocarpaceae) và họ Kim giao (Podocarpaceae) trên tiểu lục địa này.

Những loài di cư từ hệ thực vật Ấn-Miến phần lớn thuộc vùng khí hậu khô, lá rụng theo mùa. Chúng đến vùng Tây bắc và tiến xuống Tây nguyên và tới cả đồng bằng Nam bộ, với cây chịu mặn rừng sác. Các họ thực vật gốc gác ở khu Ấn-Miến có các loài phổ biến ở Việt nam có thể kể:

– Những họ thực vật có mặt trên tiểu lục địa Ấn từ thế Paleocen (Cổ tân) xuất hiện từ 66-56 triệu năm trước, khi tiểu lục địa Ấn chưa nối với khối Á-Âu gồm có: Xoài (Anacardiaceae), Dừa (Arecaceae), Gòn (Bombacaceae), Bứa (Clusiaceae), Chưn bầu (Combretaceae), Đậu (Fabaceae), Quế (Lauraceae), Sung (Moraceae), Trâm (Myrtaceae), Súng (Nymphaeaceae), Hoà bản (Poaceae), Bần (Sonneratiaceae), Trôm (Sterculiaceae), Co ke (Tiliaceae)…

-Những họ thực vật có mặt từ thế Oligocen cách nay khoảng 34-23 triệu năm, lúc tiểu lục địa Ấn đã nối với khối Á-Âu như: Mãng cầu (Annonaceae), Trước đào (Apocynaceae), Cúc (Asteraceae), Mấm (Avicenniaceae, nhưng nay được coi là một họ phụ của họ Ô rô, Acanthaceae), Thầu dầu (Euphorbiaceae), Xoan (Meliaceae), Đước (Rhizophoraceae), Trôm (Sterculiaceae)…

– Những họ thực vật có mặt trễ, trong thế Miocen-Pliocen, cách nay khoảng 20 đến 3 triệu năm, như Ngũ trảo (Verbenaceae), Bằng lăng (Lythraceae)…cũng có thể di cư đến Việt nam từ vùng Miến điện.









Một vài loài phổ biến có thể có nguồn gốc từ Ấn-Miến như sau: