3. Hiện trạng rừng tự nhiên ở Việt Nam

3. Hiện trạng rừng tự nhiên ở Việt nam

Nguyễn Lương Duyên

Một cách tổng quát các quần hệ thực vật (biomes) trên trái đất hình thành tuỳ vùng khí hậu, với hai yếu tố chính là nhiệt độ và vũ lượng. Khí hậu cũng thay đổi với cao độ. Những vùng núi ở nhiệt đới có khí hậu giống như ôn đới, và rừng do đó cũng có những đặc tính của rừng vùng ôn đới. Việt nam nằm trong đai quần hệ rừng nhiệt đới ẩm, với khí hậu nhiệt đới gió mùa, trải dài 15 vĩ độ.

Nhiệt độ trung bình hàng năm cao 20-26⁰C, biên độ nhiệt trung bình khoảng 16⁰C. Lượng mưa trung bình phần lớn lãnh thổ trên 1,600mm. Ẩm độ không khí rất cao, 70-90%. Gió mùa Đông bắc (gió bấc) thổi trong khoảng tháng 11 đến tháng 3, gió mùa Tây nam (gió nồm) thổi khoảng tháng 5 đến tháng 9. Hai kỳ lặng gió ngắn xen kẽ giữa hai mùa.

Kiểu rừng cũng chịu ảnh hưởng của cao độ và thổ nhưỡng. Nhìn chung

¾ lãnh thổ là cao nguyên và núi. Vùng có khí hậu cận nhiệt đới thường được coi là có cao độ trên 700 m ở miền Bắc và trên 1000 m ở miền Nam.


Rừng nhiệt đới thường xanh thường ở trên các loại đất Acrisols (đất xám) giàu sét, ít màu mỡ và Ferralsols (đất đỏ) tương đối phì nhiêu. Rừng khô nhiệt đới hiện diện trên đất Lixisols (đất nâu) nghèo dưỡng chất và cạn vì dễ bị xói mòn. Rừng ngập nước, mặn hay phèn, gặp trên đất Solonchaks (đất mặn) trẻ, úng nước và đất Thionic Fluvisols (phèn chua) pH thấp.

Theo thống kê năm 2016 của Bộ Nông nghiệp Việt nam, hiện nay toàn quốc có 14.4 triệu ha rừng, che phủ 41% diện tích, gần bằng với con số che phủ của rừng năm 1943 là 43%. Rừng tự nhiên khoảng 10.2 triệu ha, rừng trồng 4.1 triệu ha. Trữ lượng gỗ khoảng 1.1 tỷ m³, tức khoảng 76m³/ha. So với con số công bố năm 2009, diện tích rừng là 13.3 triệu ha, trữ lượng gỗ ước tính là 61m³/ha thì diện tích rừng có khả quan hơn. Rừng được coi là giàu chỉ chiếm 8.7%, rừng nguyên thuỷ hay bị tác động không đáng kể chỉ còn khoảng 4%.





Ước tính đầu tiên về diện tích rừng Việt nam được Paul Maurand đưa ra năm 1943 là rừng tự nhiên chiếm 43% diện tích lãnh thổ, tức khoảng 15 triệu ha. Do lạm thác trong thời gian dài, diện tích rừng xuống thấp nhất vào năm 1990, ước tính chỉ còn khoảng 9.1 triệu ha (8.4 triệu ha rừng tự nhiên và 0.7 triệu ha rừng trồng) hay 28% lãnh thổ.

Nhìn vào bản đồ hiện trạng và trữ lượng carbon, dễ nhận ra tuy diện tích đất có rừng cao, nhưng trữ lượng giảm một cách đáng kể. Những vùng được coi là trữ lượng cao chỉ còn dọc dãy Trường Sơn Bắc và Nam, nhưng cũng không còn liền lạc nữa.

Ghi chú: Để có thể chuyển đổi qua lại từ trữ lượng carbon tấn/ha sang đơn vị quen thuộc m³/ha.