Lễ hội ngày xuân (phần 2)

LỄ HỘI NGÀY XUÂN

(Phần 2)

ĐÀO ĐỨC CHƯƠNG

V – LỄ HỘI CẦU NGƯ

Làng Hưng Lương và Xương Lý [22] chỉ cách nhau một đồi cát, đều ngó ra biển và nằm về phía Đông bán đảo Triều Sơn. Hưng Lương xoay mình hứng gió bấc nên thường gọi là Vũng Bấc. Xương Lý lại nghiêng về Đông Nam hưởng trọn gió nồm nên gọi là Vũng Nồm. Ở vào địa thế ba mặt cát trắng vây phủ, dân chúng hai làng này sống về nghề đánh cá biển; cuộc đời gắn bó với sóng nước, may ít rủi nhiều, vì thế họ tin rằng có đấng thần linh cứu giúp họ.

Ngày xuân đối với ngư dân là những ngày bận rộn nhất trong năm, vì đang mùa cá. Ăn tết Nguyên Đán xong, dân chài làm lễ cáo Thủy thần, trước khi ồ ạt ra quân cho vụ mùa năm mới. Tuy hai làng nằm sát cạnh nhau, nhưng Xương Lý tổ chức lễ vào mồng 10 tháng giêng âm lịch, còn Hưng Lương vào mồng 10 tháng 5 âm lịch, và cũng gọi là Lễ Cầu Ngư. Đây là lễ hội lớn nhất trong năm của hai làng này [23].

H 6: Toàn cảnh làng Xương Lý và Vũng Nồm.

(Ảnh: Phan Minh Châu cung cấp)

1 – Lễ cung nghinh Thủy Thần:

Buổi chiều trước ngày hành lễ, ngư dân trong làng tề tựu đông đủ, chỉ trừ phụ nữ đang có kinh nguyệt không được bén mảng đến. Họ túc trực tại lăng thờ Ông Đông Hải [24] và đợi quá nửa đêm, bước sang đầu giờ sửu (1 giờ sáng) mới cử hành lễ.

Ban tế lễ gồm vị Chánh tế [25] mặc áo rộng xanh, đội mũ lễ, mang giày hia đứng giữa chiếu tế, trực diện với chánh điện. Bồi tế cũng mặc lễ phục như Chánh tế và đứng sau, cách một bước sải chân (khoảng 1 mét). Ngoài ra, có bốn lễ sinh mang trống chiến [26], từng cặp đối xứng đứng hầu hai bên án trong và hai bên tiền đường. Ban nhã nhạc, ngoài nhóm kéo đàn cò và thổi kèn, còn có một người đánh chiêng đứng bên tả và một người đánh trống chầu đứng bên hữu sân tế. Lễ vật gồm có bò, heo, bánh mứt, hoa quả. Các con vật chịu lễ, bị trói chặt, tắm rửa sạch sẽ, đặt nằm trên sạp trước sân tế.

Đứng đầu ban tổ chức là vị Hương lễ [27] tuyên bố khai mạc và ra lệnh khởi chinh cổ. Ba hồi chín tiếng chiêng gióng lên, rồi đến ba hồi chín tiếng trống chầu vang dậy. Trên bàn thờ hương trầm nghi ngút, tăng thêm vẻ uy nghiêm. Bốn lễ sinh vừa đi, vừa đánh nhịp trống, từ từ tiến vào vị trí đã định sẵn. Rồi đến lượt Chánh tế và Bồi tế, hai tay chắp lại cung kính, tiến vào chiếu tế trước chánh điện, theo nhịp trống của các lễ sinh.

Các đồ tể gọn gàng, buộc thắt lưng đỏ, cầm dao phay bén nhọn, đứng bên sạp đợi lệnh. Một lần nữa, ức và cổ con vật chịu lễ được chùi sạch bằng khăn ướt và lau lại bằng khăn khô, rồi cắt tiết, máu tươi được hứng vào thau sạch, đem dâng tế Thủy Thần.

Bốn lễ sinh đồng loạt xướng hưng, bái. Khi xướng “hưng,” Chánh tế và Bồi tế đứng thẳng người, chắp tay trước ngực. Khi xướng “bái,” cả hai vị quỳ xuống, đầu cuối sát, trán chạm đất. Lạy đúng ba lần, lễ sinh xướng “hưng, bình thân.”

Xong tiết mục lễ bái, vị Hương lễ đọc văn tế, đại ý cầu xin Thủy Thần Đông Hải (xem ghi chú 24) phò hộ cho trời yên bể lặng, năm mới được mùa cá.

2 – Diễn hát bả trạo tạ ơn Thủy Thần:

Sau đó, màn hát bả trạo (hát có cầm mái chèo) tượng tưng cho con thuyền ra khơi đánh cá. Đây là loại dân ca nghi lễ ở vùng ven biển miền Nam Trung Việt, trình bày hoạt cảnh bơi thuyền, qua nghệ thuật diễn tuồng. Diễn viên toàn là đàn ông, vừa hát, vừa múa nhịp nhàng, theo động tác chèo, lái.

Đội hình bả trạo xếp theo mặt bằng của chiếc thuyền, đầu đuôi nhọn, phần giữa phình ra, gồm: Tổng tiền (tức Tổng mũi) đứng trước. Tiếp theo có 8, hay 12, hoặc 16 con trạo, còn gọi là bạn chèo (luôn luôn số chẵn) xếp hai hàng dọc. Đứng giữa hai hàng bạn chèo là Tổng thương (tức Tổng khoang). Và sau cùng là Tổng hậu (tức Tổng lái).

Về trang phục và trang cụ, Tổng mũi cùng Tổng lái mặc lễ phục cổ truyền: khăn đóng, áo dài cặp trong trắng ngoài đen, quần trắng. Tổng mũi còn phải hóa trang rực rỡ, nai nịt oai vệ như một vị tướng, tay cầm cặp sênh quay về phía bạn chèo, gõ nhịp điều khiển. Tổng lái hai tay cầm mái chèo dài khoảng 2 mét, múa động tác lái thuyền. Tổng khoang và các bạn chèo, ăn mặc gọn gàng, đầu chít khăn, thắt lưng đỏ. Tổng khoang mặc áo ba màu, trang trí thành từng vằn xen kẽ nhau theo hình lát chả, quần xăn quá gối, tay cầm gàu, cúi xuống ngẩng lên, theo nhịp điệu diễn cảnh tát nước trong thuyền ra. Các bạn chèo, đồng phục trắng, chân đi đất, ống quyển quấn xà cạp, tay cầm mái chèo ngắn độ 120 cm , sơn đầu trắng đầu đen. Con trạo theo nhịp sênh, đồng loạt cúi về phía trước, rồi ngã mình ra sau, biểu diễn động tác chèo thuyền. Thiết kế theo lối cổ truyền là thế, nhưng với sáng kiến và linh động, đôi khi có vài thay đổi về trang phục và diễn xuất, cho hoạt cảnh thêm phần mới lạ, miễn sao vẫn giữ được nét chính truyền thống.

Về nghệ thuật, các động tác của diễn viên, tuy diễn lại những việc làm của nghề nghiệp, mang tính dân gian, nhưng đã được cách điệu hóa, phối hợp nhịp nhàng với tiếng nhạc lời ca. Hát bả trạo còn chịu ảnh hưởng của hát tuồng, sử dụng các làn điệu như xướng, nói lối, ngâm, hát nam, hát tấu, hát ban… Mỗi lời nói là một câu thơ, mang đậm nhạc tính. Vì vậy, phần đệm âm của hát bả trạo ngoài tiếng sênh ngắt nhịp, còn có đàn cò, trống cơm và kèn để đưa hơi.

Về diễn xuất, khi dàn nhạc trỗi lên, đội hình bả trạo theo hàng một tiến ra sân diễn. Đi đầu là Tổng mũi, rồi đến Tổng khoang, tiếp theo là các bạn chèo, sau cùng là Tổng lái (sơ đồ hình 1).

Mái chèo được cầm dựng đứng bên tay phải, bàn tay bồng lấy đuôi chèo, mũi hướng thẳng lên trời. Đến chỗ quy định, các diễn viên đi quanh theo chiều kim đồng hồ, xếp thành vòng tròn (sơ đồ hình 2).

Ba ông tổng bước lui vào trong vòng tròn và xếp hàng dọc, đứng trước là Tổng mũi, giữa có Tổng khoang (đứng đúng vị trí tâm điểm của vòng tròn), sau cùng là Tổng lái (sơ đồ hình 3).

Nghe hiệu lệnh hai tiếng sênh, các con trạo ở cung tròn bên tả và cung tròn bên hữu tách vòng, xếp thành hai hàng dọc. Tổng khoang đứng yên vị trí, tức ở giữa hai hàng bạn chèo. Tổng mũi tiến tới đứng trước, cách đều hai hàng dọc bạn chèo.Tổng lái lùi lại, đứng sau bạn chèo, thẳng hàng với hai tổng kia (sơ đồ hình 4).

Tổng mũi gõ hai tiếng sênh, các bạn chèo ở hai bên hàng dọc, từng cặp đối xứng, đâu mũi chèo bắt chéo vào nhau ở trên cao khỏi đầu. Gõ hai tiếng sênh kế tiếp, mái chèo lộn nửa vòng đối xứng từng cặp, để mũi chèo chéo nhau dưới đất. Hai tiếng sênh nữa, các con trạo vung mái chèo khua một vòng, rồi hai tay đỡ mái chèo nằm ngang trước bụng, trong tư thế đứng nghiêm. Tiếp hai tiếng sênh, Tổng lái tiến lên đứng phía bên trái Tổng mũi, còn Tổng khoang thì đứng phía bên phải, thành hàng ngang trước điện thờ Ông Đông Hải (xem ghi chú số 23).

H 7: Sơ đồ đội hình múa hát Bả trạo.

Lễ bái bắt đầu. Trong lúc vị chủ lễ long trọng đọc văn tế, Tổng mũi ra hiệu lệnh cho đám bạn chèo nâng mái chèo lễ bốn lạy. Khi dứt bài văn tế, hai tiếng sênh báo hiệu, Tổng lái và Tổng khoang lui về vị trí cũ, đội hình y như hình 4. Rồi hai tiếng sênh tiếp theo, các con trạo bật mái chèo, hai tay cầm cán và hướng mũi chèo ra phía ngoài, đối xứng nhau từng cặp, sẵn sàng trong tư thế chèo thuyền.

Xong phần biểu diễn đội hình, đến lượt múa hát bả trạo cũng do Tổng mũi điều khiển. Hai tiếng sênh ra hiệu cho Tổng lái cất giọng trước.

Tổng hậu (Tổng lái) xướng [27]:

Án nội lễ nghi chỉnh túc

Đăng chúc huy hoàng

Truyền cho bả trạo lưỡng ban

Xếp chèo vào bái yết.

Con trạo (đồng thanh):

Dạ!

Tổng hậu:

Xuân thu lộ tiết

Thốn niệm thanh hương

Tửu cúc trà lan

Hạ các đẳng cung khiên

Ớ bả trạo!

Cái [29] khai thuyền hầu trạo.

Trạo (đồng thanh):

Dạ!

Hạ thiên quan thủy sắc

Hốt nhất chiếu huy hoàng.

Khai thuyền hầu linh vị

Đẳng bả trạo quý vương!

Đẳng bả trạo vương!

(Theo tiếng phách của Tổng tiền, các con trạo diễn động tác chèo thuyền. Khi Tổng mũi quay về phía con trạo gõ sênh, đám bạn chèo cuối rạp mình, hai tay nắm chui chèo với ra đằng trước, giả làm động tác chèo thuyền. Khi Tổng tiền quay về phía mũi thuyền rồi gõ sênh, đám bạn chèo ngã mình ra sau, hai tay co lại, giả như động tác làm đẩy con thuyền lướt trên mặt nước. Các động tác phải đồng bộ và nhịp nhàng.)

Tổng hậu (tay lúc nào cũng làm động tác giữ chèo lái) xướng:

Chói rạng hai vầng nhật nguyệt

Thẳm sâu một dải ngân hà

Ngàn năm vang tiếng âu ca

Muôn thuở đền ơn báo bổ

Dâng lễ tế Cầu Ngư lạc lợi

Đội ơn nhuần lệ nhỏ chứa chan.

(Lối ai)

Chứa chan cất mái chèo

Cơn lại đòi cơn

Anh em bả trạo ơi!

(Nam ai)

Phong phất phất, thủy phau phau

Buồm dong biển ái, lèo sang mặt sầu.

Trải qua mấy dặm biển dâu,

Ngàn năm tế độ sông sâu khôn lường.

Tổng tiền:

Truyền cho bả trạo lưỡng ban

Đồng thanh ca nhất loạt.

Con trạo (đứng tại chỗ) đồng thanh:

Dạ!

Lan tương lưu phiếm phiếm

Quế chấp trạo khinh khinh

Độc tạ quyền linh ứng

Âu ca khứng khải hành

Âu ca khứng khải hành!

(Diễn động tác chèo thuyền).

Tổng hậu (điệu Nam ai):

Khải hành ngàn trùng vời vợi

Nghĩ như Ông [30] ta là

Giữa sóng dồi vùng vẫy lượn xoay

Đến khi phụ mẫu rằng nghe

Thấy tin lên dọi [31] quay lui trở về.

Tổng khoang (vào, nói lối, xưng tên):

Trước kính thờ tôn vị

Sau vâng lệnh toàn ban

Ngô biểu hiệu trung khoang

Như tôi là đạo tôi con giữ trọn một niềm

Ngó xuống thuyền, nước đã đầy khoang

Gàu gáo nọ tay sang

Khi gàu gáo nọ nước kia ta tát.

Tát nước kia cho ráo

Anh em bả trạo ơi!

(Nam ai)

Hễ làm người phải biết công ơn

(Nói lối)

Anh em bả trạo ơi!

Rán mà chèo

(Nam ai)

Chèo cho bỏ mái qua lui,

Nhờ ơn buồm thuận gió xuôi hội này.

(Nói lối)

Ớ bả trạo ơi!

Anh em rán mà đưa thuyền

Cho tới Giang đáo xứ túc hộ trì

(Nam ai)

Dầu cho sóng ngả gió day chi sờn.

Tổng tiền:

Truyền cho bả trạo nghe tổng tiền

Hò cho tử tế chứ chẳng phải chơi, nghe.

Con trạo (đồng thanh):

Dạ! (tay chèo)

Tổng tiền (bắt ban hát đồng thanh):

Trời cao đất dày rộng vơi vơi

Ngàn thu ân đức muôn đời oai linh!

. . . . . . . . . . . . . . .

Trong khi diễn hát, Tổng mũi có thể tùy sáng kiến mở rộng vai tuồng. Với khả năng nhập vai tài tình, khi thì như một ngư ông trên biển cả, khi thì như một tiên ông uống rượu ngâm thơ, luận sự tích cổ kim, khi thì như một vị thuyền trưởng tài ba lèo lái con thuyền trong cơn bão táp… Tất cả thủ thuật đều được phô diễn, gây nên không khí sống động. Một điều tối kỵ, Tổng mũi không được làm hề. Trong cương vị người chỉ huy, Tổng mũi phải giữ nghiêm trang cho buổi lễ. Như vậy, vai Tổng mũi phải là một nghệ sĩ thành thạo, biết đủ các làn điệu dân gian từ ca, ngâm, lý, hò, hát bài chòi, phú… đến các làn điệu hát tuồng như nói lối, tán, oán, thán, xướng, hát Nam…

Tổng lái cũng là một nghệ sĩ chuyên nghiệp, mới có thể đối đáp, phụ họa và phối hợp nhịp nhàng với Tổng mũi.

Vai Tổng khoang có thể vận dụng tối đa khả năng giễu cợt, bằng dáng điệu, bằng nét mặt, cả giọng nói, tỏ vẻ lăng xăng rộn ràng, chọc cười khán giả càng nhiều càng tốt, như đoạn sau đây:

Tổng hậu (báo):

Dông! Bớ chú Tổng, dông! dông!

Tổng khoang (đang ngủ , giật mình, vẻ dớn dác):

Dông hồi nào?

Tổng hậu:

Dông hồi này chớ hồi nào!

Tổng khoang:

Thôi cấp dã, chơn cấp dã!

Nguy tai, thậm nguy tai!

Xem đầu hôm sao tỏ, trăng thanh,

Sao khuya lại mây giăng mù mịt?

Âu là ta lánh chốn ba đào hưng vãng.

Tổng hậu:

Ớ trung khoang!

Phó cho trung khoang gìn giữ nội thuyền

Đặng canh lấy nước non mà tát.

Tổng khoang:

Dạ! Dạ!

Ngô thọ giáo, ngô thọ giáo

Nguyện đương nguy, nguyện đương nguy.

Âu là ta giở vạt ngõ hầu

Nhảy xuống khoang tát nước.

. . . . . . . . . . . . .

Màn diễn bả trạo kéo dài với 329 câu hát qua 46 lượt đối đáp giữa ba ông Tổng và các con trạo. Khi sắp vãn tuồng, Tổng hậu gọi các bạn chèo:

Ớ bả trạo!

Án tiền hành lễ kỷ

Đồng thanh hát:

Phụ tạ anh linh chi tí

Ngưỡng mong đầm nội siêu thăng

Trạo tử đồng thành tâm

Tạ ân an vị!

Tổng mũi gõ hai tiếng sênh ra hiệu kết thúc buổi diễn. Bạn chèo dừng tay, dựng mái chèo thẳng đứng bên tay phải. Tổng khoang vác gàu lên vai, tiến tới đứng sau Tổng mũi. Hai tiếng sênh kế tiếp, Tổng mũi và Tổng khoang rẽ về phía bên phải, rồi hướng về phía hậu trường. Tiếp đến là bạn chèo, theo số thứ tự từ nhỏ đến lớn, con trạo hàng dọc bên trái đi trước, rồi tới hàng dọc bên phải. Sau cùng là Tổng lái, lần lượt đi khuất vào trong (sơ đồ hình 5).

H 8: Diễn hát Bả trạo.

(Ảnh: Nguyễn Xuân Vinh, Cuongde.org)

3 – Hát bội chầu lễ:

Xong màn hát bả trạo, buổi lễ vẫn chưa dứt, vì còn một tiết mục quan trọng là hát án, tức là hát bội cho thần thánh xem. Dân làng dựng sẵn nhà tạm, ngay trong khuôn viên lăng thờ, trần thiết hương án, với đầy đủ nghi trượng và đối diện với sân khấu. Để tỏ hết lòng cung kính, ban tổ chức thuê những gánh hát danh tiếng trong tỉnh như ban Bầu Thơm, Bầu Phàn, Chánh ca Mi ở phủ Tuy Phước, hay ban Chánh ca May ở phủ An Nhơn, hoặc lên huyện Bình Khê thỉnh gánh hát Bát Én. Tuồng hát cũng được chọn lọc, hợp với sự cung nghiêm, như Hoa Dung Lộ (Quan Công tha Tào Tháo), Cổ Thành (Quan Công quá quan)… và phải diễn cho hết tuồng, có khi đến sáng mới xong. Đào kép được mời hát án, phải giữ mình sạch sẽ, tinh khiết, lời ca điệu múa phải nghiêm túc. Khán giả dù sang hèn, chức cao quyền trọng, cũng phải tự coi mình là kẻ xem ké của thần linh. Mọi người đều tỏ ra cung kính, khép nép, giữ yên lặng và trật tự.

Tiếp sau đêm tế lễ ở lăng Ông Đông Hải, dân làng còn tổ chức hát bội ba đêm liền. Sân khấu được dời ra bãi cát rộng, bên ngoài lăng, cho mọi người xem, tránh sự xâm nhập tà tạp, mang ô uế đến nơi thờ phượng.

Không khí Tết ở đồng quê kéo dài suốt cả tháng giêng âm lịch. Mùa gặt chưa đến, dân chúng rảnh rang dạo chơi xuân, kéo về đây xem Lễ hội Cầu Ngư đông như kiến. Nhất là đêm trình diễn bả trạo, ai cũng muốn xem nghệ thuật ca múa độc đáo của dân chài. Một bộ môn dân ca nghi lễ vừa đậm màu sắc dân gian, vừa thể hiện trình độ cao của nghệ thuật hát tuồng.

VI – LỄ HỘI ĐÂM TRÂU

Thế đất ở Bình Định dốc đứng và chia làm ba miền rõ rệt. Vùng núi cao ở phía Tây là dãy rìa Trường Sơn, chiếm hơn 2/3 diện tích trong tỉnh, gồm các huyện An Lão (phía Bắc) Vĩnh Thạnh, Tây Sơn và Vân Canh (phía Nam). Vùng trung du ở giữa, là một dải đất chạy dài theo hướng Bắc Nam. Miền này có nhiều núi thấp xen kẽ theo đường Đông Tây tạo thành những thung lũng hẹp. Sau cùng là miền duyên hải ở phía Đông, gồm những cánh đồng màu mỡ đan xen với đồi trọc, như xâu chuỗi viền biển Đông.

Bởi địa hình phức tạp tác động mạnh vào cuộc sống của cư dân, nên mỗi miền có nét sinh hoạt khác nhau, thể hiện qua các lễ hội cũng khác nhau. Nếu các làng chài dọc theo bờ biển có Lễ hội Cầu Ngư với màn hát bả trạo truyền thống, mang màu sắc nghề nghiệp; thì ở miền đồng bằng có hội Hát Xuân, phô diễn nét nghệ thuật độc đáo của tỉnh nhà; ở miền trung du có Lễ hội Đống Đa, phát huy lòng tự hào dân tộc; và ở miền núi có Lễ hội Đâm Trâu của người Thượng, biểu lộ lòng dũng cảm và nét man dại của rừng xanh.

Theo tài liệu thống kê và nhân chủng, đồng bào Ba Na (Bahnar, Bania) hiện nay có 136.859 người ở rải từ Kon Tum, Pleiku, An Túc và phía Tây hai tỉnh Bình Định, Phú Yên. Dân tộc thiểu số Ba Na có bảy chi nhánh nhưng chỉ có ba nhánh: Alakông, Tơ Lô và Bơ Nơm (B. Mơ Nam) là tập trung ở dọc biên giới phía Tây tỉnh Bình Định và đông đảo ở huyện Vĩnh Thạnh (xem ghi chú số 2).

1 – Lập giàn tế:

Hằng năm, từ tháng chạp đến tháng 3 âm lịch, dân tộc Bana theo thuyền thống mở lễ hội tạ ơn Giàng (Yang) là đấng thần linh tối cao của họ. Người Bana gọi lễ ấy là Koh Kpô hay Groong Kpô Tonơi, tiếng Việt gọi là Lễ hội Đâm Trâu.

Theo Đặc San Văn Hoá Bình Định (Qui Nhơn, 1992) và Việt Nam Hình Ảnh Cộng Đồng 54 Dân Tộc (Hà Nội, nxb Văn Hóa Dân Tộc, 1997), cùng tham khảo các tài liệu khác; Già làng chọn bãi đất rộng, bằng phẳng thuộc địa phận buôn làng mình để tổ chức lễ hội. Chuẩn bị cho việc hành lễ, người ta dựng giàn tế (Gưng) là một quần thể gồm: Một cây tre cao, thẳng, còn nguyên ngọn, gốc được chôn vững vàng gọi là nêu, sát bên cây nêu là một cột lớn rắn chắc bằng cây Xmuôn hay cây Plang, cũng được chôn chặt để đỡ cây nêu và dùng vào việc buộc trâu; nhưng nếu chọn được cây săn thẳng, đủ vững chắc để làm nêu thì không cần trụ buộc trâu nữa. Và quanh cây nêu còn trồng 4 hay 8 trụ gỗ tròn, cao độ 3 mét, đường kính khoảng 15 cm. Các trụ gỗ này, được bố trí theo hình hoa thị đối xứng từng cặp và trang trí thành những vòng khuyên sơn màu đen, trắng, xanh, đỏ xen kẽ nhau. Ở đầu các trụ gỗ có các thanh ngang buộc nối hai trụ lại với nhau, cấu kết theo thế liên hoàn vững chắc. Dọc theo thân cây nêu có các dây buông dài, tết bằng lạt tre buộc những tấm nan hình tam giác và các ống tiêu gió bằng cây lồ ô đu đưa vi vu trước gió. Trên cùng cây nêu có treo túi thiêng, tiếp theo là cánh phướn đan bằng lạt giang, biểu tượng cho chim đại bàng (kring), hình ảnh của sức mạnh và trí tuệ.

2 – Lễ hiến tế:

Lễ hội Đâm Trâu được tổ chức trong 3 ngày, hai ngày đầu tại Giàn tế (Gưng), ngày cuối ở sân Nhà làng (nhà Rông). Ngày thứ nhất, người ta dắt một con trâu to béo đầy sức lực đến giàn tế, nối cổ trâu vào Cột tế (Plang Kpô) bằng một dây thừng bện thật chắc, dài độ 2 mét. Dân trong buôn và người xem đứng bao quanh giàn tế thành một vòng tròn rộng.

Giờ hành lễ bắt đầu, dàn cồng rộn rã nổi lên chen lẫn âm thanh của bộ chiêng rền vang, kết hợp với bộ trống lớn (Bnưng) dồn dập, dậy lên bản giao hưởng hùng tráng như tiếng gọi từ hồn thiêng ngày hội. Các thanh niên thanh nữ xếp hàng dọc, tay cầm gậy múa Kơ- tếch (điệu múa dành riêng cho Lễ hội Đâm Trâu), đi vòng quanh giàn tế theo chiều ngược kim đồng hồ. Vị tù trưởng đứng vai chủ tế dẫn đầu các vị bô lão (chừng 5, 6 người), mặc lễ phục sặc sỡ từ từ tiến đến giàn tế, quỳ rạp khấn vái thần Giàng (Yang). Tiếp theo bài khấn là lễ Hiến tế, một bô lão khoẻ mạnh nhất trong ban tế lễ, tay phải cầm giáo tay trái cầm khiên bước ra khỏi hàng, lựa thế đâm một nhát vào con vật tế thần. Tuy bị thương nhưng trâu vẫn còn sức mạnh, cố bứt dây chạy thoát nhưng không được, đành chạy vòng quanh giàn tế. Mọi người trong buôn đồng loạt hú lên rung chuyển cả núi rừng và đi quanh giàn tế đánh cồng, múa hát đến chiều tối mới mãn.

3 – Lễ hiến sinh:

Ngày thứ hai, cả buôn tập trung bao quanh giàn tế để làm lễ Hiến sinh. Lần nầy, trai tráng trong buôn vào cuộc. Họ cầm vũ khí và khiên, la hét, dồn đuổi con trâu chạy quanh giàn tế. Họ thi nhau bắn cung, phóng lao, đâm giáo vào con vật tế thần. Lòng dũng cảm và sự khôn khéo của họ được thể hiện qua cách săn đuổi con mồi. Và phần thưởng chiến thắng dành cho chàng trai nào lựa được thế, đâm thẳng vào tim con vật, gục xuống, chết ngay. Già làng cầm bát đồng hứng máu tươi, hòa với rượu dâng thần linh. Tiếng hú mừng chiến thắng lại một lần nữa vang trời dậy đất.

Trâu được xẻ thịt ngay tại chỗ, chọn thịt ngon và toàn bộ lá gan chia đều cho năm nhóm rồi vẩy máu đã hòa rượu, cung kính đặt trên bàn thờ thần Giàng. Già làng đứng ra khấn bái, xong lễ, gan trâu được chia đều cho tất cả trai tráng trong buôn. Họ tin rằng ăn gan đó, sẽ tăng cường sức mạnh và lòng dũng cảm vì đã có thần Giàng chứng nhận.

Ngày thứ ba, túi thiêng trên cây nêu được rước về thờ ở nhà Rông, đặt ngay chỗ để vò rượu chính. Già làng làm lễ khấn xong, gọi mọi người đến uống rượu này, vì tin rằng ảnh hưởng của túi thiêng đã hòa trong rượu, uống vào sẽ tiêu trừ những rủi ro và tật bệnh. Họ còn tổ chức những trò chơi thượng võ ngay trước sân nhà Rông như bắn cung, đấu kiếm, phóng lao, đấu võ… Cuộc vui suốt ngày và kéo dài đến thâu đêm suốt sáng.

LễHộiĐâmTrâuCuảNgườiBaNa_VN_HìnhẢnhCộngĐồng_54DânTộc

H 9: Lễ Hội Đâm Trâu của người Ba Na.

Ảnh từ “Việt Nam Hình Ảnh Cộng Đồng 54 Dân Tộc”

VII – LỜI KẾT

Trước kia, lễ hội ngày xuân ở Bình Định có nhiều, nhiều lắm. Trên đây, chỉ là những hình nét sinh hoạt tiêu biểu.

Ngày nay, các lễ hội như Chợ Tết Gò Chàm, Hội Tết Chợ Gò, Lễ hội Đống Đa vẫn còn đó; tuy có thay đổi ít nhiều, cho phù hợp với hoàn cảnh của mỗi thời đại.

Hội Hát Xuân đã tắt lịm từ lâu, nhưng dân chúng vẫn còn nuối tiếc. Mỗi dịp xuân về, một vài nơi còn gắng gượng, tổ chức đám hát nho nhỏ tại địa phương. Dĩ nhiên, không thể nào có được cái huy hoàng ngày cũ, và cũng không thể giữ lệ đều đặn hằng năm.

Lễ hội Cầu Ngư vẫn còn, nhưng thu gọn nhiều, màn diễn bả trạo cũng sửa đổi, còn hát áng thì năm có năm không. Lễ cắt tiết các con vật trước sân tế, bỏ hẳn từ lâu, không ai muốn đem vào cuộc vui, cảnh lưu huyết thương tâm.

Và Lễ hội Đâm Trâu của người Ba Na, rút ngắn còn một ngày đêm. Con vật chịu lễ, được các tay thiện nghệ nhanh chóng đâm chết, không còn cảnh săn đuổi kéo dài sự hãi hùng đau đớn. Và người dự lễ hội, đỡ bị căng thẳng thần kinh vì thương cảm.

San Jose, ngày 30- 10- 1998

Bổ chính lần 3: 15- 09- 2012

ĐÀO ĐỨC CHƯƠNG

GHI CHÚ

[22] Thôn Hưng Lương (Vũng Bấc) và Xương Lý (Vũng Nồm) dưới thời Minh Mạng, sau năm 1832, thuộc tổng Trung An, huyện Phù Cát, phủ Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định. Sau năm 1935, hai thôn này thuộc tổng Chánh Lộc, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định. Tháng 3 năm 1946 (có tài liệu chép cuối năm 1946) cải tổ hành chánh, bỏ danh xưng phủ, thống nhất gọi là huyện, bỏ cấp tổng, lập xã và duy trì cấp thôn; Hưng Lương và Xương Lý hợp thành xã Hưng Xương, huyện Phù Cát. Tháng 3 năm 1948 (có tài liệu chép tháng 7- 1947), cải tổ lần thứ 2, hợp các xã nhỏ thành xã lớn, Hưng Lương và Xương Lý thuộc xã Cát Xương, Phù Cát. Tháng 8 năm 1949, hai thôn này nhập vào xã Phước Hòa, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.

Ngày 22- 12- 1960, thành lập xã Phước Lý gồm 3 thôn Hưng Lương, Xương Lý và Hội Lộc, bởi Nghị định số 1811- BNV/NC8/NĐ của Tổng thống VNCH (Nguyễn Quang Ân, Việt Nam Những Thay Đổi Địa Danh Và Địa Giới Các Đơn Vị Hành Chính 1945 – 1997, trang138).

Sau năm 1975 đổi tên là xã Nhơn Lý, thuộc ngoại thành Qui Nhơn, và chia Hưng Lương Xương Lý thành 4 thôn: Lý Hưng, Lý Lương, Lý Chánh, Lý Hòa; còn thôn Hội Lộc ngày 24- 3- 1979, Quyết định số 127- CP của Hội đồng Chính phủ, tách ra lập xã riêng, lấy tên là Nhơn Hội, cũng thuộc ngoại thành Qui Nhơn. Như vậy, xã Nhơn Lý chỉ còn 4 thôn (do sự giải thể của hai thôn Hưng Lương và Xương Lý ngày xưa).

[23] Theo ngư dân Nhơn Lý, hằng năm vào tháng giêng âm lịch Vũng Nồm đón cá lên, tức là đàn cá di chuyển từ Nam ra Bắc, họ thường gọi “Mùa lên.” Đến tháng 5 âm lịch, Vũng Bấc đón cá lại, tức là đàn cá di chuyển từ Bắc xuống Nam, gọi là “Mùa lại.” Vì thế, tuy hai làng ở cạnh nhau, nhưng Xương Lý ảnh hưởng của Vũng Nồm, nên tổ chức Lễ Cầu Ngư vào mồng 10 tháng giêng. Hưng Lương thuộc Vũng Bấc, đến mồng 10 tháng 5 mới cử hành Lễ Cầu Ngư (có người cho rằng làng Hưng Lương làm lễ Cầu Ngư vào mồng 6 tháng 3 âm lịch?).

[24] Vua Gia Long (嘉 隆) sắc phong cho cá voi tước hiệu Nam Hải Cự Tộc Ngọc Lân Thượng Đẳng Thần, gọi tắt là Ông Nam Hải. Vì thế, ở làng Xương Lý (nay thuộc xã Nhơn Lý) các bô lão còn quen gọi là “Ông Nam Hải” (tiếng tôn xưng dùng để gọi cá voi), hay “Thủy Thần Nam Hải.” Tên gọi ấy cần sửa lại, vì vị trí của nước ta (nói chung) và tỉnh Bình Định (nói riêng) đều ngó ra biển Đông, nên gọi là “Đông Hải” mới đúng.

[25] Chánh tế còn gọi là Chủ tế, làng cử ra một người phải thập toàn: không khuyết tật, không tang chế, tuổi tác phải hạp với năm tổ chức Lễ Cầu Ngư.

[26] Trống chiến: mặt trống gần bằng trống chầu, nhưng thân trống ngắn bằng một phần ba.

[27] Hương lễ: chức coi về phép tắc và việc cúng tế trong làng. Trong thời quân chủ, mỗi làng, ngoài Lý trưởng ra còn có ngũ hương: Hương bộ, chuyên lo việc sổ bộ ruộng đất và lập giấy khai sinh, khai tử; Hương bản giữ tài chánh và lúa nghĩa thương của làng; Hương kiểm lo an ninh, trật tự; Hương dịch coi việc xâu bơi, tạp dịch; Hương mục phụ trách cầu đường trong làng.

[28] Các câu hát bả trạo trong bài này do các cụ Nguyễn Tam Chiến và Nguyễn Thanh Cao ở làng Xuân Thạnh xã Mỹ An huyện Phù Mỹ tỉnh Bình Định đọc thuộc lòng, Thanh Phương và Ngô Quang Hiển ghi lại, phổ biến trong Ca Dao Nam Trung Bộ (Sài Gòn, nxb Khoa Học Xã Hội, 1994), trang 392 – 408.

[29] Cái: thổ ngữ xưa, nay không còn dùng, có nghĩa là tất cả, thảy đều.

[30] Ngư dân tin rằng khi thuyền gặp nạn, họ được cá voi cứu sống và đưa vào bờ. Để tỏ lòng tôn kính và biết ơn, họ gọi cá ông là Ông Đông Hải, hoặc gọi tắt là Ông.

[31] Dọi là tiếng lóng của dân chài, chỉ hiện tượng dậy sóng ở biển khơi mà họ tin rằng nơi đó có Ông (tức cá voi) xuất hiện.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

– DƯƠNG THỊ THE – PHẠM THỊ THOA (Dịch và biên soạn); Tên Làng Xã Việt Nam Đầu Thế Kỷ XIX (Thuộc các tỉnh từ Nghệ Tĩnh trở ra); Hà Nội, nxb Khoa Học Xã Hội, 1981.

– HOÀNG CƠ THỤY; Việt Sử Khảo Luận, Cuốn 2: Paris, nxb Nam Á, 2002.

– LÊ PHÚC và 5 tgk (Ban biên soạn); Việt Nam Hình Ảnh Cộng Đồng 54 Dân Tộc; Hà Nội, nxb Văn Hóa Dân Tộc, 1996.

– NHIỀU TÁC GIẢ; Đặc San Bình Định Bắc California – 2001; San Jose, Hội Ái Hữu Bình Định Bắc California xb, 2001.

– NGUYỄN ĐÌNH ĐẦU; Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn – Bình Định, Tập I&II ; Sài Gòn, nxb TP/HCM, 1996.

– NGUYỄN QUANG ÂN; Việt Nam Những Thay Đổi Địa Danh Và Địa Giới Các Đơn Vị Hành Chính 1945 – 1997; Hà Nội, nxb Văn Hóa – Thông Tin, 1997.

– NGUYỄN Q. THẮNG – NGUYỄN BÁ THẾ; Từ Điển Nhân Vật Lịch Sử Việt Nam; Sài Gòn, nxb Khoa Học Xã Hội, 1992.

– PHẠM VĂN SƠN; Việt Sử Tân Biên, Quyển 3; Sài Gòn, tác giả xuất bản, 1959.

– THANH PHƯƠNG và NGÔ QUANG HIỂN; Ca Dao Nam Trung Bộ; Sài Gòn, nxb Khoa Học Xã Hội, 1994.

– TRẦN ĐÌNH THÁI; Ai Có Về Qui Nhơn; Sài Gòn, Tủ sách đẹp Quê Hương xuất bản, 1973.

– TRẦN TRỌNG KIM; Việt Nam Sử Lược, in lần thứ 7; Sài Gòn, nxb Tân Việt, 1964.

– TRỊNH VĂN THANH; Thành Ngữ Điển Tích Danh Nhân Từ Điển, Quyển II; Glendale (CA), Đại Nam tái bản, không đề năm.