4. Sơ lược về phân loại rừng Việt Nam

4. Sơ lược về phân loại rừng Việt Nam

Nguyễn Lương Duyên

Dựa vào văn bản cổ, nhà nước Đại Việt thời Hồng đức (triều đại Lê sơ) khoảng 1470-1497, có phân chia các loại rừng nhằm mục đích kiểm soát việc khai thác lâm thổ sản và thu thuế.

Công việc phân loại rừng Việt nam đầu tiên trên thế giới là do nhà thực vật học Chevalier, năm 1918, phân chia rừng miền Bắc Việt nam thành 10 kiểu.

Năm 1943, nhà lâm học Paul Maurand, dựa trên điều kiện địa lý và cấu trúc rừng, chia rừng Đông dương thành 8 kiểu, trên ba thảm thực vật Bắc, Nam Đông dương và vùng trung gian.

Năm 1953, Maurand và Lý văn Hội, Rollet, và Neang Sam Oil phân loại chi tiết hơn về Rừng miền Nam Việt nam.

Năm 1956 nhà lâm học Dương Hàm Hy, Trung hoa, có đưa ra một phân loại mới cho rừng miền Bắc Việt nam.

Bảng phân loại đầu tiên của ngành lâm nghiệp Việt Nam về thảm thực vật rừng ở Việt Nam là bảng phân loại của Cục Điều tra và Quy hoạch rừng thuộc Tổng cục Lâm nghiệp Việt Nam, bảng phân loại này xây dựng năm 1960. Theo bảng phân loại này, rừng trên toàn lãnh thổ Việt Nam được chia làm bốn loại hình lớn, chỉ dựa trên tình trạng khai thác rừng của con người.

Năm 1967 (?), bộ Canh nông Việt nam Cộng hoà có bảng phân loại rừng miền Nam trong báo cáo The Forests of Free Vietnam.

Năm 1968, Phùng Trung Ngân trong các bài giảng Sinh môi học cho trường Cao đẳng Thuỷ Lâm miền Nam VN, cũng đưa ra bảng phân loại rừng miền Nam trên quan điểm sinh môi.

Năm 1970, Trần Ngũ Phương đưa ra bảng phân loại rừng ở miền bắc Việt Nam, cho rằng VN chỉ có loại rừng gió mùa và chia rừng miền Bắc thành 3 đai lớn theo độ cao: đai rừng nhiệt đới mưa mùa, đai rừng á nhiệt đới mưa mùa, đai rừng á nhiệt đới mưa mùa núi cao.

Năm 1975, trên cơ sở các điều kiện lập địa trên toàn lãnh thổ Việt Nam, tại hội nghị thực vật học quốc tế lần thứ XII (Leningrat, 1975), Thái Văn Trừng đã đưa ra bảng phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam trên quan điểm sinh thái. Đây được xem là bảng phân loại thảm thực vật rừng ở Việt Nam phù hợp nhất trên quan điểm sinh thái, được sử dụng cho đến nay. Phân loại rừng giúp ích cho vấn đề quản trị rừng hợp lý về mặt khoa học sinh thái, lâm học, môi trường, xã hội và khai thác bền vững tài nguyên tái tạo được là rừng.


Phân chia vùng sinh thái với các tiểu vùng của Research Center for Forest Ecology and Environment (RCFEE) thuộc Viện Khoa học Rừng Việt nam (2011):

Các vùng sinh thái lâm nghiệp không trùng với sự phân chia các vùng sinh thái nông nghiệp. Phân chia vùng sinh thái lâm nghiệp Việt nam dựa trên các nền dữ kiện về khí hậu, thổ nhưỡng, địa hình, thuỷ văn, xã hội, năng suất sinh học, chuyển hoá vật chất trong hệ, và thẩm mỹ.