La Reina (Pablo Neruda)

LA REINA

Một tuyệt tác thi ca Tây ban nha ngữ

Đàm Trung Pháp

Nguồn hình minh họa: The Internet

Thi hào Pablo Neruda (1904-1973) của nước Chile đoạt giải Nobel văn chương năm 1971, vì – theo lời ủy ban tuyển lựa – “thơ của ông, với một sức mạnh thiên nhiên, có thể làm sống lại cái định mệnh và những ước mơ của một lục địa.” Có thể nói Neruda là nhà thơ Mỹ châu La-tinh được thế giới biết đến nhiều nhất. Thi tập đầu tay mang tên Veinte poemas de amor y una canción desesperada (Hai mươi bài thơ tình và một bài ca tuyệt vọng) mà Neruda sáng tác năm 20 tuổi đã bán được trên một triệu cuốn và được dịch sang hàng chục thứ tiếng. Tuy là một nhà ngoại giao từng giữ những chức vụ quan trọng, thi ca vẫn là mối đam mê lớn nhất của ông. Thi tập đồ sộ Canto general (Bài ca tổng quát) gồm 340 bài thơ xuất bản năm 1950 là một thiên anh hùng ca đề cao Mỹ châu La-tinh.

Sau vài cuộc tình đổ vỡ, năm 1955 Neruda cưới ca sĩ Matilde Urrutia mà ông quen biết từ năm 1946. Matilde trở thành người vợ sau cùng cũng như Nàng Thơ đích thực của Neruda. Tràn đầy nhựa sống, tươi như hoa, hát như chim hót, chơi dương cầm thiện nghệ, Matilde là nguồn thi hứng vô tận cho những bài trong tuyển tập Cien sonetos de amor (Một trăm bài thơ tình). “Yêu em anh làm thơ” là chủ đích của thi tập rực rỡ ấy. Yêu đến nỗi Pablo nhiều lúc đã viết cả những lời thơ tuyệt trần lên trên khăn lau miệng để tặng Matilde ngay trong tiệm ăn!

La reina (Nữ hoàng)) là tên bài thơ ngất trời tình ái Pablo viết cho Matilde được tôi chuyển sang Việt ngữ dưới đây, song hành với nguyên tác bằng Tây ban nha ngữ, để quý độc giả bốn phương cùng thưởng lãm:

Anh gọi tên em là nữ hoàng = Yo te he nombrado reina

Có những nàng còn cao hơn em = Hay más altas que tú, más altas

Có những nàng còn băng trinh hơn em = Hay más puras que tú, más puras

Có những nàng còn yêu kiều hơn em = Hay más bellas que tú, más bellas

Nhưng em là nữ hoàng = Pero tú eres la reina

Khi em quá bộ ra phố = Cuando vas por las calles

không ai nhận ra em = nadie te reconoce

Không ai thấy vương miện của em, = Nadie ve tu corona de cristal

không ai thấy tấm thảm bằng vàng đỏ = nadie mira la alfombra de oro rojo

trải ra để chân em bước tới = que pisas donde pasas

tấm thảm vô hình = la alfombra que no existe

Và khi em xuất hiện = Y cuando asomas

tất cả những giòng sông náo động = suenan todos los ríos

trong thân anh, những tiếng chuông = en mi cuerpo, sacuden

lay chuyển cả bầu trời = el cielo las campanas

và một thánh ca ngập tràn thế giới = y un himno llena el mundo

Chỉ có em và anh = Sólo tú y yo

em yêu ơi, chỉ có em và anh = sólo tú y yo, amor mió

lắng nghe bài thánh ca ấy = lo escuchamos

[ĐTP 2015]