Introduction of “Vietnamese poems in English and in Vietnamese”

VIETNAMESE POEMS IN ENGLISH AND IN VIETNAMESE

by

Nguyễn Đại Thanh

INTRODUCTION

The translation from one language to another can be extremely difficult and risky, especially in the area of poetry. Even the most skilled translator cannot fully convey the true value of a poem through translation—its soul and its rhyme. Even when a translated poem is not quite a betrayal of the original, it is merely a dull paraphrase of the original. Thus, my expectations of a complete replication of a poem through translation are rather low. Honestly, I have such feelings whenever I finish translating a poem from a foreign language into Vietnamese, or vice versa. However, the need for the translation of poems increases in light of an ever-flourishing global education. Realizing that even the best translation is not perfect, I only hope that it does not betray the original poem in its meaning and its message implied therein. In such a case, I will be quite pleased.

After carefully reading the book entitled “Vietnamese Poems in English and in Vietnamese” by Mr. Nguyen Dai Thanh, I am truly contented. Well-presented in both its simplicity and its elegance, the book contains 52 poems written by famous Vietnamese poets and their translations into English. Upon opening the book, the reader will find the originals on the right page and the translations on the left, parallel to one another from start to finish, facilitating the comparison of the text.

The striking points of the book in which Mr. Nguyen Dai Thanh has faithfully expressed the ideas of the Vietnamese poems into the English prose are the lucid and simple literary tradition, solid syntax, and the fastidious vocabulary. Here is a typical example in the first paragraph of the poem “Ông Đồ” by Vu Dinh Lien:

Mỗi năm hoa đào nở,

Lại thấy ông đồ già.

Bày mực tàu giấy đỏ

Bên phố đông người qua.

This excerpt is closely translated into English as follows:

 Every year, when peach blossoms bloomed,

 The old scholar-scribe was seen again.

 He displayed India ink and red paper

 By the street crowded with passers-by.

Such Vietnamese collocations as “đuôi gà cao,” “dải yếm đào,”quần lĩnh,” “áo the,” and “nón quai thao” in the poem by Nguyen Nhuoc Phap, or “giậu mùng tơi xanh rờn” in the poem by Nguyen Binh are very difficult to translate into English. Nevertheless, they are effectively translated respectively as “pony tail,” peachcolored halter,”taffeta pants,” “gauze dress,” “large, round hat,” and “verdant basella hedge.”

In order to help readers better understand the meanings of the translations, the author provides a number of short and concise footnotes about Vietnamese customs and etiquette. For example, in the translation “Bạn Đến Chơi Nhà” by Nguyen Khuyen, the sentence “Đầu trò tiếp khách trầu không có” is translated into “Even betel leaves and areca nuts are not ready to welcome you” with an annotation at the bottom of the page indicated as follows: “Customarily, hosts invited guests to chew betel leaves, areca nuts, and lime paste. This custom is still practiced by many, especially in rural areas in Vietnam.”

This bilingual book is a commendable contribution by a Vietnamese educator who has devoted himself to the enrichment of learning materials for the multicultural and multilingual education in America. Readers will be able to appreciate the unique customs and characteristics of the Vietnamese way of life as it is in peaceful times as well as in the tumultuous times of war as depicted by well-known poets such as Nguyen Khuyen, Tran Te Xuong, Nguyen Binh, Luu Trong Lu, Han Mac Tu, The Lu, Dinh Hung, and Cung Tram Tuong. This book is very helpful to all Vietnamese students who have not yet mastered their native language and who also have a strong desire to explore their ancestry through poems about their homeland.

Dr. Trung-Phap Dam

Professor of Linguistics

Texas Woman’s University

LỜI GIỚI THIỆU

Trong công việc dịch thuật từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ kia, lãnh vực khó khăn và liều lĩnh nhất là thơ. Tài giỏi đến đâu, người dịch cũng không thể nào chuyển được cái hồn thơ, cái vần điệu nguyên tác sang một ngôn ngữ khác. Nếu thơ dịch không hẳn phản lại thơ nguyên tác thì thơ dịch chỉ có thể là một hóa thân bất đắc dĩ, kém ý vị đi nhiều của nguyên bản. Thú thực, tôi đều cảm thấy như thế mỗi khi dịch xong một bài thơ ngoại ngữ sang tiếng Việt hoặc ngược lại. Nhưng nhu cầu dịch thơ vẫn còn đó, do đòi hỏi của trào lưu giáo dục hoàn vũ. Biết rằng mình không thể đòi hỏi gì hơn trong thơ dịch, tôi chỉ cầu mong thơ dịch đừng đi quá xa thơ nguyên tác về ý nghĩa, về thông điệp gửi gấm trong đó. Được như vậy là hài lòng lắm rồi.

Và tôi thực sự hài lòng sau khi xem kĩ cuốn “Vietnamese Poems in English and in Vietnamese” của ông Nguyễn Đại Thanh. Cuốn sách trình bày giản dị và trang nhã, chứa đựng 52 bài thơ nguyên tác của các thi sĩ Việt Nam nổi tiếng và các bài dịch sang Anh ngữ. Mở cuốn sách ra, người đọc sẽ thấy thơ nguyên tác nằm trên các trang bên phải và thơ dịch nằm trên các trang bên trái, song song với nhau trong toàn bộ cuốn sách, rất tiện cho việc thưởng lãm và so sánh văn bản.

Điểm son nổi bật là dịch giả Nguyễn Đại Thanh đã chuyển ý nghĩa các bài thơ tiếng Việt sang văn xuôi tiếng Anh khá trung thực, qua một văn phong giản dị và sáng sủa, một cú pháp vững vàng, và một sự lựa chọn từ vựng cẩn thận. Xin cử ra đây một thí dụ điển hình. Đoạn đầu bài thơ “Ông Đồ” của Vũ Đình Liên:

Mỗi năm hoa đào nở,

Lại thấy ông đồ già.

Bày mực tàu giấy đỏ

Bên phố đông người qua.

được dịch giả chuyển sang tiếng Anh sát nghĩa như sau:

Every year, when peach blossoms bloomed,

The old scholar-scribe was seen again.

He displayed India ink and red paper

By the street crowded with passers-by.

Những từ ngữ đặc biệt Việt Nam khó chuyển sang tiếng Anh như “đuôi gà cao,” “dải yếm đào,” “quần lĩnh,” “áo the,” và “nón quai thao” trong thơ Nguyễn Nhược Pháp hoặc “giậu mùng tơi xanh rờn” trong thơ Nguyễn Bính được dịch giả lần lượt chuyển thành “ponytail,” “peach-colored halter,” “taffeta pants,” “gauze dress,” “large, round hat,” và “verdant basella hedge” một cách đáng tin cậy.

Để giúp người ngoại quốc hiểu rõ thêm ý nghĩa các bản dịch, dịch giả cung cấp một số cước chú ngắn gọn bằng tiếng Anh về phong tục Việt Nam. Chẳng hạn, trong bản dịch bài thơ “Bạn Đến Chơi Nhà” của Nguyễn Khuyến, câu “Đầu trò tiếp khách trầu không có” được chuyển thành “Even betel leaves and areca nuts are not ready to welcome you” với một chú thích nơi cuối trang như sau: “Customarily, hosts invited guests to chew betel leaves, areca nuts, and lime paste. This custom is still practiced by many, especially in rural areas in Vietnam.”

Cuốn sách song ngữ này là một đóng góp đáng ngợi khen của một nhà giáo Việt Nam tận tụy với nghề nghiệp vào kho tàng tài liệu học tập cho cao trào giáo dục đa văn hóa, đa ngôn ngữ tại Hoa Kỳ. Người đọc sẽ thấy trong đó những nét đặc thù rất đáng ái mộ của nếp sống dân tộc Việt Nam trong thời bình cũng như trong thời loạn, qua những bài thơ phổ cập của các thi nhân nổi tiếng như Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương, Nguyễn Bính, Lưu Trọng Lư, Hàn Mặc Tử, Thế Lữ, Đinh Hùng, Cung Trầm Tưởng, vân vân. Đây cũng là một cuốn sách rất hữu ích cho giới trẻ Việt Nam sinh trưởng tại hải ngoại, không giỏi tiếng Việt, nhưng muốn về nguồn qua thi ca của quê cha đất tổ.

Tiến sĩ Đàm Trung Pháp

Giáo sư thực thụ (Ngữ học)

Texas Woman’s University