Đời đi học, đời đi dạy

ÐỜI ÐI HỌC, ÐỜI ÐI DẠY

Đàm Trung Phán

Thời gian đi học và đi dậy học của tôi đã sấp sỉ nửa thế kỷ. Có những lúc như hôm nay, khi bầu trời muà đông Toronto u ám và chấm bài mỏi cả mắt, tôi muốn tìm về cái thời còn đi học và nhất là cái nghịch ngợm của tuổi học trò.

Còn nhớ, hồi còn ba, bốn tuổi, tôi rất mê xem đốt pháo vào mấy ngày Tết tại làng quê tôi ở Bắc Ninh. Mê đến nỗi, sau dịp Tết, một hôm tôi bèn nghĩ ra cách đốt pháo bằng lối châm lửa vào mấy ngọn rơm trong bếp, giống như châm ngòi pháo vậy. Kết quả là cả một đống rơm to trong bếp cháy ra khói luôn. Mẹ tôi, mặc dù đang đau yếu, cũng phải cùng gia dình múc nước chữa lửa. Sau khi bị đòn, tôi còn bị mẹ mắng:

– Con hư lắm, thôi cho quách cho người Mõ trong làng cho rồi!

Nghe vậy tôi càng khóc to, vì tủi thân hơn là vì bị đánh đau.

Tôi may mắn là có anh trai, anh P, hơn tôi có một tuổi. Hồi trẻ hai đứa giống nhau, nhiều người tưởng là anh em sinh đôi. Hai đứa chơi với nhau như bạn, có khi chí choé, vật nhau luôn! Ở nhà quê có cái thú là đi bắt dế mèn, phải là dế đực cơ. Hai anh em tôi bắt có khi được cả trăm con. Khi thuận hoà thì hai đứa cùng chung dế, khi giận nhau thì chia hai, y hệt như trong việc đổ vỡ của một cặp vợ chồng vậy! Hai anh em tôi cũng rất mê câu cá nhưng cha mẹ

không cho, sợ bị ngã xuống ao chết đuối. Không được câu cá thì hai đứa đi câu nhái, câu cóc vậy. Không có tiền mua lưỡi câu, cần câu, hai đứa xin mẹ cái đanh ghim, uốn lại để làm lưỡi câu và sang nhà hàng xóm xin một thân cây trúc làm cần câu rồi xin mẹ thêm ít chỉ. Như vậy là có đủ đồ nghề rồi! Bắt thêm con ruồi đen hay ruồi nhặng nưã rồi đi kiếm nhái, cóc mà câu. Có hôm tôi lôi cả một con cóc to ra mà mổ, tụi tôi chơi trò “ông thầy thuốc tây”. Có lần tôi bị cóc xịt nước vàng vào chân, chân nổi mụn, ngứa muốn chết. Vậy mà có bị đòn chăng nữa, chơi thì vẫn cứ chơi!

Một cái thú nưã mà tôi không quên được: thú xem người ta hoạn lợn. Người hoạn lợn mang cái tròng vào chuồng lợn, kiếm con lợn đực, cho tròng vào một chân con lợn rồi lôi ra và … đem hoạn. Một hôm hai đứa kiếm được một cái tròng lợn bằng tre, cất biến đi một nơi. Khi không ai có nhà, hai đưá mở chuồng lợn, đi chân đất vào chuồng (đâu có sợ dơ)! Anh P đuổi lợn, tôi dứng cầm tròng cho

đến khi bắt được một chú lợn, lôi đi xung quanh vườn đến nỗi chân con lợn bị trầy da. Kết quả là hai anh em lại bị đòn sau đó!

Khi anh em tôi lên 8, lên 9, hai đứa theo cha lên Phúc Yên để di học. Vì chỉ có ba cha con, cha tôi ở trọ cùng nhà với thầy Vinh là hiệu trưởng cuả trường “Tề” (thuộc phe Tây/Quốc Gia). Ban ngày thì mọi người ở trường, buổi chiều tối phải ra phố ở để tránh Việt Minh. Gia đình thầy Vinh lúc đó chỉ có chị Bích là con gái út, lớn hơn tụi tôi 2, 3 tuổi nên hai anh em tôi lại vẫn chơi với nhau như bạn. Cha tôi thường hay để tiền lương trong cái cặp da. Hai đứa mở cặp lấy đại 50 đồng đưa cho người tùy phái ở trường để uống nước ngọt crème soda và mua thuốc lá đều đều. Một hôm khi hai đứa đã ngủ say, cha tôi kiếm được thuốc lá trong cặp tụi tôi. Hai đứa bị đánh đòn và hỏi tội:

– Tại sao hai đứa hút thuốc lá?

Tôi nhanh trí, đánh liều trả lời:

– Thưa Bố, tại vì cầu tiêu nó hôi quá!

Câu trả lời chẳng hợp lý mà cũng chẳng hợp tình, hai đưá lại phải lãnh thêm vài cái roi nữa. Đến mùa vải, khi chim tu hú bắt đầu hót thì học trò cuả cha tôi có khi biếu thầy hàng thúng vải. Hai đưá tụi tôi tha hồ ăn, có khi tôi lên cơn sốt vì ăn vải quá nhiều. Chung quy cũng chỉ vì vắng mẹ mà thôi!

Sau năm 1951, cả gia đình tôi được tái ngộ xum họp tại Hà Nội. Riêng tôi thì lại có những nỗi khổ khác. Cha tôi dậy trường nào, anh em tôi phải học trường đó. Các thầy dậy anh em tôi đều là bạn thân của cụ. Anh tôi học giỏi, các thầy rất thương. Tôi ở thế gọng kìm: học dốt thì khổ to khi thầy đến thăm bố mẹ, rồi lại còn phải “cạnh tranh” với anh tôi nữa cho nên tôi đã phải học chăm một cách bất đắc dĩ.

Mỗi tuần cụ thường bắt anh em tôi tập viết chính tả tiếng Pháp (dictée). Thú thật với các bạn, đây là một trong những cái khổ nhất cuả tôi, bây giờ mới dám nói ra. Anh tôi thường không phạm lỗi nào, còn tôi sơ sơ cũng phải 10 lỗi. Tôi biện minh với cụ:

– Tại vì anh ấy ra đời trước nên anh ấy giỏi hơn con!

Nói vậy chứ tôi vưà thấy tức, vưà thấy tủi, tại sao mình lại thua kém anh như vậy! Rồi tôi còn cái khổ nữa: cụ hay giảng chuyện Kiều, chữ Nho, Liêu Trai Chí Dị, Fables de La Fontaine cho hai đứa nghe. Anh tôi, vì bản chất văn chương nên nghe rất thích

thú. Còn tôi thì, chữ vào tai trái, chữ ra tai phải. Trong đầu còn mải nghĩ đến đánh bi, đánh đáo. Ban đêm cụ thường ngâm thơ Kiều và lâu lâu ngâm nga mấy bài hát Ả Đào, tôi lại phải nghe bất đắc dĩ. Nhiều đêm khuya, khi thức giấc, tôi thấy cha tôi còn ngồi chấm bài. Tôi thầm nghĩ: “Con sẽ không đi ngành dậy như bố đâu. Con sẽ tránh xa ngành này, lúc nào cũng chỉ thấy sách, vở và chấm bài”! Ngờ đâu giòng đời đưa đẩy: bây giờ mỗi khi nghe hát Quan Họ, Ả Đào, ngâm thơ Thúy Kiều, tôi thấy có cái gì thân thương mang tôi trở lại cội nguồn. Năm nay (1998) tôi đã đi dậy được 28 năm! Tôi giống cha tôi còn hơn anh tôi nữa. Tôi tiếc là cụ đã qua đời không cho tôi có dịp trao đổi kinh nghiệm, nghề nghiệp, văn hoá Đông Tây với cụ. Nhưng không sao, cụ luôn luôn sống trong tôi vì tôi rất yêu cái nghề dậy học này, mặc dù lúc đầu không muốn dính dáng đến nó.

Tháng 7 năm 1954 gia đình tôi di cư vào Nam, vưà lúc tôi thi xong bằng Tiểu học tại Hà nội. Mùa thu năm ấy đi thi vào đệ thất. Lúc xem bảng, tôi chẳng thấy tên mình đâu.

– Thôi chết rồi, trượt vào trường công rồi. Anh P đã đậu vào Ðệ Thất Chu văn An năm ngoái, hồi còn ở ngoài Hà Nội. Biết nói gì với cụ bây giờ?

Đầu óc tôi thật hoang mang. Bỗng đâu anh P reo lên:

– Phán ơi, đậu rồi này!

Anh tôi đưa tay chỉ tên tôi. Trời ơi, tôi đậu thật, thứ hạng khoảng 100 gì đó. Tôi nghĩ thầm:

– Thật hú vía!

Anh P rất mừng cho tôi và sau dó, hai anh em đi học trường Trần Lục cho gần nhà. Năm Ðệ Thất tương đối là năm tôi ít “hoạt động” nhất vì vừa vào trung học, chưa quen lề lối nhà trường. Tôi ngồi hàng thứ hai và kết quả học rất khá.

Sang đến Ðệ Lục, tôi ngồi tụt xuống hàng thứ tư để bắt đầu quấy phá cho dễ hơn.Trong giờ Anh văn, tôi được nghe mấy người bạn kể lại như sau:

  • Một học sinh VN mới học tiếng Anh, câu “Did they cut?” hắn đọc theo tiếng Việt là: “Đít dây c…” Bà mẹ đang ở trong bếp, nghe thấy vậy bèn la hoảng lên: “Thì đi rửa đi, cho sạch con”!
  • Ngoài ra còn giai thoại chia động từ “To sing” và “Did I sing?” cũng lại đọc theo tiếng Việt là “Đít ai xinh?”. Bọn con trai trả lời lại: “Did cô sing”?

Ðến năm Ðệ Ngũ và Ðệ Tứ, tôi ngồi tụt xuống hàng cuối cùng, được mệnh danh là “Xóm Nhà Lá”. Tôi còn nhớ mấy ông “hàng xóm” cuả tôi là Trọng, Long, Lộc thường nói với tôi trước khi các thầy gọi tôi lên đọc bài:

– Nều thầy, cô mà có gọi tên tao, thì mày cứ nói là nó không có mặt nghe!

Mấy người bạn này thường chúi xuống dưới bàn để các thầy, cô không nhìn thấy. Sở dĩ tôi ngồi ở hàng cuối vì các tay yên hùng hay nhờ tôi gà bài cho và nhất là để tôi quấy phá cho dễ. Tôi còn nhớ, có một học sinh trong lớp tôi, vì không thuộc bài, bị thầy hỏi:

– Tại sao anh không thuộc bài?

Anh ta đáp:

– Vì thưa thầy, con mới vào.

Ông hàng xóm Long cuả tôi phụ hoạ:

– Thưa thầy, con mới vào từ …đầu năm ạ!

Cả lớp tuy đang sợ thầy hỏi bài cũng phá lên cười.

Cũng theo thông lệ, khi vào Ðệ Nhất Chu văn An, tôi và Bùi công Tạo (học cùng với tôi từ Ðệ Thất) cũng lại ngồi bàn chót cho vui cưả, vui nhà. Hồi đó trường Chu văn An ở ngay sau trường Petrus Ký và lớp Ðệ Nhất A3 cuả chúng tôi ở ngay cạnh phòng các thầy giám thị. Một hôm trong giờ Vạn Vật cuả thầy Nguyễn văn Đỉnh, có hai nữ sinh đi vào phòng giám thị. Cả lớp đều xôn xao. Anh chàng Ngọc, hàng xóm cuả tôi nằm sát gầm bàn, cúi nhìn sang phòng giám thị, qua kẽ hở giữa vách và sàn nhà. Hắn nói:

– Tụi mày ơi, đưa tao cái que để tao lấy đôi guốc!

Kết quả là ông hàng xóm cuả tôi đã ăn cắp được đôi guốc cuả nữ khách. Thầy giám thị, tôi quên mất tên rồi, sang lớp chúng tôi:

– Anh nào ăn cắp đôi guốc cuả cô nữ sinh phòng bên cạnh?

Một anh thản nhiên trả lời:

– Tụi con đang học Vạn Vật trong lớp, có ai sang phòng thầy đâu mà ăn cắp đôi guốc?

Giờ chơi hôm đó cả lớp vui cười hớn hở, chỉ tội cho nữ sinh kia

phải đi chân đất ra về.

Năm Ðệ Nhất, tương đối các học sinh cũng đều lớn rồi, người trẻ nhất cũng đã 17 tuổi, nên giáo sư Trần bích Lan tức nhà thơ Nguyên Sa trong giờ Triết thường đọc thơ cho cả lớp nghe. Chúng tôi được nghe bài thơ “Hôm Nay Nga Buồn Như Con Chó Ốm” và “Áo Nàng Vàng Anh Về Yêu Hoa Cúc”. Chính những âm hưởng của loại thơ mới này đã luyện cho tôi những vần điệu của thơ tự do mà tôi bắt đầu viết vào thập niên 60 ở Úc và thập niên 90 tại Canada khi tôi bắt đầu hiểu thế nào là đời và đạo.

Thầy Vũ khắc Khoan dậy Sử thường hay đi xích lô đến trường. Tuy dậy Sử nhưng thầy hay nói chuyện văn chương trong lớp. Thi cuối năm môn Sử cuả thầy, có gần 10 đưá tụi tôi được điểm cao nhất là 12/20. Thầy Lưu văn Minh dậy môn Pháp văn, tôi được nhất lớp về bài Dissertation Littéraire, tôi rất lấy làm hãnh diện với

cha tôi vì thầy quen biết với cụ. Nét chữ cuả thầy Minh rất đẹp và tôi lấy đó làm khuôn mẫu cho nét chữ tôi về sau này. Trước khi tôi di du học, thầy đã đến thăm gia đình tôi và cho tôi một hộp kẹo. Thầy đã để lại cho tôi rất nhiều hình ảnh đẹp, nhất là cách thầy dậy trong lớp. Tôi đã hấp thụ được phong cách cuả thầy và đem

áp dụng khi tôi trở thành giáo sư bất đắc dĩ tại Toronto, Canada vào năm 1970 .

Khi tôi bắt đầu niên khoá 1962 tại đại học New South Wales tại Úc, tôi đã gặp một số đồng môn Chu văn An tại Sydney: các anh Cung Tiến, Trần lương Ngọc, Phạm chí Thành, Phạm ngọc Bích, Phạm đỗ Tuấn, Nguyễn hữu Minh (con thầy Tổng giám thị Nguyễn hữu Lãng), Lưu tiến Hiệp, Nguyễn đăng Thái, Đỗ duy Lâm (biệt hiệu Sheriff), Nguyễn ngọc Truyền, Nguyễn văn Ninh (cùng lớp Ðệ Nhất với tôi tại Chu Văn An)… Vì là lính mới tò te nên năm 1962 Nguyễn hữu Minh và tôi quyết định ở nội trú để tiết kiệm thì giờ di chuyển.

Ở nội trú, mỗi lần ăn cơm chiều, sinh viên phải mặc áo thụng đen (gown), trừ ngày cuối tuần. Minh và tôi mua chung một cái “gown”, chia phiên đi ăn, đứa ăn sớm, đứa ăn trễ. Khi nào kẹt thì đi mượn mấy đứa bạn Úc. Quy luật cuả “college” (tiếng Việt là cư xá, tiếng Bắc Mỹ là “residence”) là phải mặc “veston”, thắt “cravate” trước khi mặc gown (áo thụng). Những hôm trời nóng, nhiều người mặc quần “short và gown”, làm tôi nhớ đến ông táo đi hia chẳng mặc quần. Không ai bắt lỗi được họ vì quy luật không nói đến quần ngắn, quần dài!

Những ai mới vào “college” đều được gọi là “freshman”, mặc dù đã học năm thứ 2, 3, 4 trong đại học. Minh và tôi thường hay bị các quan “Senior” (“freshman” phải gọi “senior” là “Sir”!) sai đi pha trà, mang bánh mì về hầu các “quan”. Ngoài ra các “freshman” còn phải thay nhau gác điện thoại cho cư xá, từ 6 giờ chiều đến 10 giờ đêm. Khách gọi vào, sinh viên gác điện thoại phải đi đến phòng kiếm người cho khách nói chuyện. Một hôm tôi đang ăn trưa thì bị một “ngài senior” gọi ra mắng mỏ:

– Hôm qua bạn gái ta gọi vào, tại sao mi lại gọi người khác ra nói chuyện với cô ta?

Tôi trả lời:

– Dạ bẩm thưa ngài, vì tôi nghe mang máng tên giống nhau quá.

Ngài “senior” quát to:

– Bộ mi không biết tiếng Anh sao?

Tôi đáp lễ:

– Dạ thưa tiếng Anh nó có nhiều tên “Mắc” (Mac) quá!

Người ta mới qua Úc, chân ướt chân ráo có mấy tháng, cầm điện thoại lên là sợ rồi, còn bắt con nhà người ta nhận phone, tên tôi tiếng Anh phải là Mac Debt (Mắc Nợ) mới đúng! Đã vậy các “quan senior” còn hành bọn “freshman” chúng tôi hết cỡ nữa. Một hôm các “quan” bịt mắt bọn tôi lại, mang mỗi đứa vào một phòng riêng, bắt há miệng ra và bảo rằng tụi tôi phải nuốt con sâu, nếu không sẽ bị phạt tiếp. Khi mà các “quan” có quyền trong tay, bắt làm gì, chúng tôi phải làm vậy. Ừa, thì nuốt đại cho xong. Nuốt xong, các “quan” mở mắt cho các “freshmen” coi, hoá ra tụi tôi đã nuốt “spaghetti”. Cả bọn rũ ra cười. Đúng là nhất quỷ, nhì ma, thứ ba “các quan seniors”!

Muà hè, tôi thường phải đi thực tập trong các công trường lớn như nhà máy điện, đập nước trong đại lục Úc. Những ngày tháng này tôi học được rất nhiều tiếng chửi thề, tiếng lóng cuả Úc. Dưới ánh nắng chói chan của sa mạc, da tôi đen sậm gần như dân bản xứ vậy. Mỗi lần được dịp về thăm bạn bè VN tại Sydney, mấy người bạn thân gọi tôi là “thằng Mán Phán”. Khi “thằng Mán” về tỉnh là bạn bè tha hồ mà ké vì “thằng Mán” kiếm được thêm tiền khi đi làm xa. Xu hào rủng rỉnh, “thằng Mán” còn gọi taxi mời ba, bốn ông bạn vàng đi lên “downtown” ăn cơm tầu, xem ciné, hứng thì cho đi xem… striptease. Chắc vì vậy mà bạn bè mong “thằng Mán Phán” nó về như mong mẹ về chợ chăng?

Minh với tôi chỉ ở nội trú có hai năm vì quá đắt tiền và vì tụi tôi đã quen với đời sống sinh viên rồi. Tụi tôi dọn ra ở “flat” (bên Canada gọi là ở “apartment”) cho tiện việc tổ chức Hội Sinh Viên VN. Có đêm trời nóng vào cuối tuần, sinh viên con trai chỉ mặc quần xà lỏn ngồi đánh bài, bất thình lình có các cô tới thăm. Trong lúc… “tang gia bối rối”, mặc nhầm quần cuả nhau là chuyện thường tình! Tuy cả thành phố Sydney trong đầu thập niên 60 có cả thẩy chừng 20 sinh viên VN nhưng chúng tôi cũng hăng say tổ chức Tết, nhất là phải ra bằng được tờ báo xuân. Chúng tôi chia nhau đánh máy trên tờ “stencil” để quay “ronéo”. Cái “flat” cuả chúng tôi cũng được chọn làm nơi in báo. Ai chưa đến phiên đánh máy thì ngồi đánh bài “Five Hundred” hay “Poker” cho nên cái flat lúc nào cũng có tiếng cười nói ồn ào như cái chợ vậy. Những “flat” của sinh viên VN còn là nơi tá túc của các bạn ở xa về thăm Sydney vào những dịp “term break”. Ban đêm, khi bước vào “flat”, tôi phải rất là thận trọng, đôi lần suýt dẫm lên thân mấy ông bạn vàng đang ngủ lăn ngủ lộn trên sàn nhà.

Buổi trưa khi mọi người đã thức giấc, cả bọn rủ nhau đi “picnic”, ăn cơm tầu, đi chơi bóng chuyền. Tụi tôi đã trở thành sinh viên, không nghịch ngợm như thời trung học nữa, cuộc sống thiên về đầu óc và lý tưởng hơn. Gặp nhau, chúng tôi thường nói chuyện thời sự VN và thế giới.

Rồi đời tôi đến chỗ rẽ và có những cái bất ngờ: tôi lập gia đình, sang Canada lập nghiệp và trở thành một nhà giáo hoàn toàn do số phận đưa đẩy. Lúc mới bước chân vào ngành dậy học – ngành Công chánh tại Centennial College – tôi có rất nhiều các bỡ ngỡ: Canada là xứ mới, chưa bao giờ tôi dậy học, học trò to con hơn tôi… Rồi tôi cũng quen đi nhưng những trò nghịch ngợm cuả sinh viên thì rất là khó mà đoán trước được.

Niên khoá 73-74 sinh viên năm thứ ba cuả ngành Công chánh được quyền sử dụng một lớp học “portable” hoàn toàn biệt lập với “building” chính cuả nhà trường. Một vị nữ giáo sư mới được bổ nhiệm, khi bước chân vào lớp học này, gần té xỉu luôn vì mấy con chuột bạch sinh viên họ nuôi trong lớp, và nhất là các tranh khỏa thân cuả “Playboy” được dán quanh tường, trần nhà và ngay trong cái đồng hồ của lớp học. Dĩ nhiên là sau đó nhà trường đã cho tảo thanh các vật dụng trên. Sinh viên bèn thả chuột ra sân trường, chuột chui vào dưới sàn cuả “portable” để làm tổ.

Năm 1977 Phân Khoa Kỹ Thuật cuả chúng tôi được dọn sang một “campus” (khuôn viên) mới, xung quanh có con suối rất nên thơ. Năm này, số sinh viên cuả trường Công chánh tự nhiên nhẩy vọt lên và sinh viên cũng có những trò chơi rất là mới lạ. Tháng 10, 1978 một số học trò Công chánh năm thứ hai rủ nhau đi dự “October Beer Festival”. Sau khi đã “chén chú chén anh”, họ rủ nhau về “mượn tạm” con bò bằng “fiberglass” của một hãng chuyên bán sữa. Con bò này to bằng con bò thật, được bắt đanh vít vào cái trụ bê tông, cao 3 mét trên mặt đất. Ấy vậy mà họ đẩy con bò xuống đất rồi khiêng lên xe “pick-up” và chở vào trường chúng tôi. Không may các “yiêng hùng” này bị cảnh sát rượt bắt trong trường. Anh chàng tài xế bị ra toà về vụ lái xe khi say rượu và “ăn cắp” con bò. Ông chủ hãng sữa thương tình, ra điều kiện với sinh viên:

– Các anh mà sửa được những chỗ “fiberglass” bị vỡ thì tôi không thưa kiện nữa.

Sinh viên đến văn phòng tôi năn nỉ:

– Thầy ơi, thầy cho tụi em mượn một phần phòng thí nghiệm vật liệu (Construction Materials Laboratory) để sửa con bò nếu không thì nguy to!

Tôi trả lời:

– “Holy Cow”! Thôi được, cho các anh mượn, đã hết nghịch chưa, các “you”?

Sinh viên lớp này còn dành cho tôi những trò chơi đặc biệt khác. Có hôm trong giờ thực tập thử xi-măng, tôi tìm chẳng thấy một đôi găng tay nào, hỏi học trò, họ chỉ lên trần nhà: găng tay đã được bơm thành bong bóng treo lên trần. Cũng có hôm về tới nhà, giở cặp ra để chấm bài, tôi thấy một bàn tay nặn bằng xi-măng được sinh viên tặng lén tôi.

Năm 1980, sau giờ nghỉ tôi vào lớp học không tìm thấy cặp đâu, tôi hỏi học trò:

– Các anh các chị thấy cặp cuả tôi ở đâu, chỉ cho tôi biết!

– Thưa thầy, thầy cứ theo cái đường chỉ dẫn bằng giấy vệ sinh (toilet paper) thì sẽ tìm ra cái cặp cuả thầy!

Hoá ra bọn “nhất quỷ nhì ma” dấu cặp cuả tôi trong phòng vệ sinh của đàn bà. Tôi phải nói khéo và nhờ một nữ sinh viên đi lấy cặp dùm trước khi tôi được yên ổn giảng bài tiếp trong lớp.

Ngày 1 tháng 4 một năm trong đầu thập niên 80, tôi cho sinh viên thi môn “Nước Uống và Nước Cống” (Water Supply and Sewerage). Trong khi chờ ở ngoài cửa lớp, sinh viên nói với tôi:

– Thôi thầy ơi, thầy đừng có vào lớp học hôm nay!

Tôi trả lời:

– Các “you” “chicken”, sợ thi chứ gì?

Sau khi tôi đã phát bài thi và học trò đã bắt đầu viết bài, bỗng nhiên cửa mở và một con khỉ đột bước vào lớp học. Tôi hoảng hồn nhưng rồi tôi thấy con khỉ tay cầm một đĩa “cream” và khúc khích cười. Con khỉ tiến tới gần tôi và cả lớp bỗng rú ra cười. Tôi định bụng:

– Chết rồi, đúng là ngày “April Fool’s Day” rồi ! Kỳ này thì mình chết với con khỉ này!

Con khỉ cầm đĩa “cream” đuổi theo tôi trong trận cười lăn lộn của bọn…”thứ ba học trò”. Vài phút sau mặt mũi tôi đầy cream và con khỉ hí hửng ra khỏi lớp giữa sự cười đùa vui thú cuả sinh viên đang viết bài thi.

Ngày hôm sau, khi gặp người sinh viên đóng vai con khỉ, tôi “hỏi tội” hắn:

– Tại sao “you” dám làm như vậy với tôi?

Hắn trả lời:

– Vì thầy hay nói với tụi em: “No turkey questions, please”! Thoạt đầu em quyên được 30 dollars của các sinh viên lớp thầy, em định mua con gà tây sống rồi quăng vào lớp tặng thầy. Mua gà tây không được, em bèn đi thuê bộ đồ khỉ đột này. Mà em thật là dại thầy ơi, mặc nóng muốn xỉu luôn. Sau khi “thăm” thầy, em sang “thăm” thầy Tom Ransom trong lớp bên cạnh. Em đến vỗ vai thầy Tom, thầy thấy con khỉ, thầy suýt ngất đi! Em thật dại dột thầy ơi. Nếu thầy đó mà xỉu thì em chết. Dù sao chăng nữa em còn là Chủ Tịch Hội Sinh Viên trường Centennial College nữa!

Một hôm tôi đi uống cà phê cùng với một giáo sư đồng nghiệp, gặp ba, bốn “bọn quái” trong hành lang. “Bọn quái” tươi cười và nói với tôi:

– “Number one teacher”!

rồi rũ ra cười. Ông đồng sự nói với tôi:

– Anh thấy không, học trò gọi anh là ông thầy số dách đó, thích không?

Tôi trả lời:

– Ông đừng tưởng bở, chúng đang “chơi” tôi cái trò gì đây!

Sau đó cứ khi nào gặp tôi, mấy ông “quáí” này đều giơ tay chào “ông thầy số một” nhưng tôi vẫn chưa biết lý do tại sao họ gọi tôi như vậy. Một đêm sau khi chấm bài xong ở nhà, tôi kiếm cái gì ăn cho đỡ đói, vừa ăn vừa xem TV. Bỗng đâu tôi thấy thám tử Charlie Chan trên màn ảnh và ông gọi con:

– “Number two son” ra đây ta bảo!

Tôi mỉm cười thú vị:

– Hoá ra bọn “quái” gọi mình là Charlie Chan!

Sáng hôm sau, khi tôi đang mặc áo khoác để che khí lạnh muà thu và đang đi trong hành lang thì bọn “quỷ” lại tươi cười “chào đón”:

– Good Morning, Number one teacher, Sir!

Tôi quay lại:

– Các anh để cho thám tử Charlie Chan yên thân, được không?

Cả bọn rũ ra cười và nói với tôi:

– Thầy biết ý tụi em rồi!

Trong đời dậy học tôi còn được nếm mùi nhiều “trò chơi” khác và tôi cũng còn gặp được nhiều khuôn mặt thân thương cuả sinh viên cũng như gia đình họ. Những trò chơi “nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò”, tôi sẽ nhớ suốt đời và tôi thường tự nhủ là:

“Đã mang máu nghịch (ngợm) vào thân

Cũng đừng trách lẫn (học) trò gần, (học) trò xa!”

Đối với riêng cá nhân tôi, tôi xin cảm ơn Trời Phật đã cho tôi một thời đi học và đi dậy thật là thú vị và phong phú.

Đàm Trung Phán

Tháng 12,1998

(Trích từ Đặc San TV-CVA Toronto 1999 )