Lá thư chủ biên TSVH 15-07-2020

TẬP SAN VIỆT HỌC                                                                                                                          NGÀY 15-07-2020                                                                                                                            LÁ THƯ CHỦ BIÊN

Thưa quý tác giả và độc giả:

Mỗ tôi rất hân hạnh được giới thiệu vị tân văn hữu cộng tác Phạm Văn Quảng, một đồng nghiệp lâu năm của mỗ tôi tại Đại Học Sư Phạm Saigon. Tuần qua Giáo sư Phạm Văn Quảng đã cho phép TSVH đăng lại bài ông điểm sách Việt Nam: Văn hóa và Môi trường (của hai đồng chủ biên Lê Hữu MụcThái Công Tụng do Viện Việt Học xuất bản năm 2012). Đó là một tuyển tập do 36 chuyên viên và học giả đóng góp bài vở về nhiều khía cạnh của văn hóa và môi trường Việt Nam, cũ cũng như mới. Phạm quân làm việc rất công tâm và nghiêm túc, một điều mà chúng ta sẽ thấy trong bài điểm sách này của ông (đăng trong mục Điểm sách). Viện Việt Học và TSVH xin nồng nhiệt chào mừng văn hữu Phạm Văn Quảng và mong nhận được thêm các bài viết giá trị của văn hữu.

Nội dung sung mãn TSVH kỳ này gồm có những bài đọc đa dạng có giá trị giáo dục đích thực về Việt học. Mỗ tôi xin được giới thiệu một cách ngắn gọn, chủ quan nhưng tâm thành, các bài đã được tuyển chọn để đăng trong các mục khác nhau.

Mục Môi trường nhắm vào cỏ cây hoa lá quê nhà. Tùy bút Hoa mùa thu ở Việt Nam của văn hữu Nguyễn Văn Ngưu nêu ra nhiều loài hoa mùa thu, đặc biệt là hoa hồng, hoàng dương, thạch thảo, và cúc vàng. Phải chăng “hoa cúc vàng rực như vậy vì là nó đã gom hết nắng hè để sưởi ấm cho mùa thu yêu thương của nó” như tác giả đã thi vị hóa loài hoa mãn nhãn này? Trong khi đó văn hữu khoa học gia rất mến yêu cây cỏ Thái Công Tụng mở đầu bài viết Về loài cây vải với hai câu thơ êm ả nhẹ nhàng “Mùa vải năm nay chừng đến muộn / Chưa nghe tu hú giục xuân đi” của Nguyễn Bính. Tên cây vải trong tiếng la-tinh là “litchi” (lệ chi荔枝) khiến mỗ tôi nghĩ đến nỗi oan khiên dã man tầy trời mang tên “lệ chi viên” ở trấn Kinh Bắc (nay là tỉnh Bắc Ninh, sinh quán mỗ tôi) mà Nguyễn Trãi và Thị Lộ hứng chịu 6 thế kỷ trước đây. Và bây giờ mỗ tôi mới hiểu tại sao hồi nhỏ không được cha mẹ cho ăn nhiều vải thiều: Theo Thái tiên sinh thì người Quảng đông tin rằng “ăn một trái vải bằng giữ ba ngọn đuốc trong người” – tính “dương” của nó dễ gây ra loét miệng người ăn!

Painful memories of South Vietnam 1975-1981 là bài đóng góp của tác giả Lâm Vĩnh Thế cho mục Lịch sử và mục English section. Từng đọc hồi ký của nhiều người khác, nhưng mỗ tôi chưa thấy một bài hồi ký nào khác (viết bằng tiếng Anh để thế giới cùng đọc) có thể sánh về cái nhìn cuộc đời một cách nhân bản, bình tĩnh, và công tâm với bài tự truyện này của nhà giáo Lâm Vĩnh Thế. Nội dung chi tiết lớp lang đáng kể nhất theo ngày tháng đổi đời khốn khổ của gia đình trung lưu một giáo sư đại học đã hiện lên sống động. Đau đớn thay, một người “bên thắng cuộc” bất nhân – trong dịp bóc lột để bần cùng hóa dân chúng miền Nam bằng cách bắt đổi tiền cũ sang tiền cộng sản mới – đã nói đến “30 năm sống dơ và chết nhục của đồng bạc Sài Gòn.”

Thơ tình Tuệ Sỹ (mục Văn học Việt) của văn hữu Vĩnh Đào mang một chủ đề vừa hấp dẫn vừa nghịch lý chi lạ, đang chờ các độc giả yêu thơ trữ tình tha thiết đẹp như áng mây trời của một vị thiền sư lỗi lạc về Phật pháp sống một cuộc đời trong sáng mẫu mực. Vậy thì hai câu diễm lệ (mỗ tôi cũng thấy rất siêu thực) “Tóc em tung bay sương chiều khói biếc / Dệt tơ trời thành khúc hát bâng khuâng” là để nhắm vào ai đây? Mời quý vị nghe lời lý giải sâu sắc của nhà bình thơ Vĩnh Đào.

Cơ hội sáng tác Chinh phu chinh phụ thán (mục Sáng tác văn học) của tác giả Phạm Doanh, một nhà thơ yêu chuộng dịch phẩm thần kỳ Chinh Phụ Ngâm diễn nôm (mà mỗ tôi, cũng như rất nhiều nhà nghiên cứu văn học khác, cho là của dịch giả Đoàn Thị Điểm) đã được tác giả cho biết trong phần phi lộ “một kẻ hậu sinh viết trong cảm hứng khi đọc lại thi phẩm Chinh Phụ Ngâm Khúc (đã đọc hồi còn mài đũng quần ở trung học) […] Phạm Doanh không chỉ nói về tâm sự, nỗi lòng của người thiếu phụ ở nhà nhưng thêm vào đó tâm tư của chính người chồng đang chinh chiến ngoài xa.” Mỗ tôi tâm đắc niềm thương nhớ người vợ hiền này của người chinh phu: “Ba năm rong ruổi việc quan / Nhớ thương người vợ võ vàng chốn quê / Chưa xong nợ nước chưa về / Niềm riêng giữ kín không hề hở môi / Áo bào bạc hết cả rồi / Chiếc khăn ngày tiễn không rời khỏi thân.”

Trong mục Địa lý, bài viết Bình Định: Địa lý hành chánh qua các thời kỳ lịch sử là sự tiếp nối của một loạt bài viết công phu từng chi tiết và với thẩm quyền về sinh quán thân thương của tác giả Đào Đức Chương. Bài này và các bài khác viết kỹ lưỡng về đời sống truyền thống ở một địa danh lẫy lừng nối liền tên với vị anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ, như Trường thi Bình Định, Võ học Bình Định, Bài chòi Bình Định, Giọng Bình Định là những tài liệu giá trị cho các nghiên cứu gia về nhân chủng học, xã hội học, và ngôn ngữ học.

Tiếng Việt của người Việt ở Mỹ (mục Ngôn ngữ) là đóng góp của nhà giáo Đàm Trung Pháp. Lấy tiếng Việt của người Việt đã sinh sống ở Mỹ lâu năm làm chứng cớ, mỗ tôi bàn về một hiện tượng đại đồng và “khó tránh” khi hai sinh ngữ được dùng trong cùng một nơi. Hiện tượng “chêm” tiếng Mỹ vào tiếng Việt (hoặc bất cứ một thứ tiếng khác nào sử dụng ở Mỹ) được khoa ngữ học đặt tên là “code-switching.” Tiện đây mỗ tôi xin thông báo là mỗ tôi vừa hoàn tất, sau 30 tháng triền miên làm việc, kế hoạch “hiệu đính và phổ biến” cuốn di cảo ngót 600 trang viết tay mệnh danh Kim Vân Kiều Đính Giải mà nghiêm đường Đàm Duy Tạo (1896-1988) trước tác xong năm 1986, lúc cụ vừa 90 tuổi. Toàn bộ (34 chương) di cảo này đã được mỗ tôi hiệu đính và phổ biến trong TSVH. Kính mong quý vị vào thăm mục Kiều Học những khi trà dư tửu hậu.

Trân trọng giới thiệu, 

Đàm Trung Pháp