TSVH AUG 01, 2020 / Lá thư chủ biên

                                                             

  VIETHOCJOURNAL.COM

 ẤN BẢN AUG 01, 2020 – TẬP SAN VIỆT HỌC

                                                                                                                                                                                                                                                    

Lá thư chủ biên

Thưa quý tác giả và độc giả:

Vì ngày nào cũng chăm chú đọc các bài gửi tới, mỗ chủ biên thấy kiến thức của mình đang mở rộng đến các chân trời mới, đầy hoa thơm cỏ lạ. Quả thực, “học thầy không tầy học bạn,” mà các “bạn” của mỗ đây là những chuyên viên, học giả hàng đầu trong các bộ môn liên hệ. Chẳng trách, mỗi bài nhận được đều làm cho mỗ tôi ấm lòng như thể đang được tiếp một người bạn từ phương xa ghé thăm. Câu nói người xưa “hữu bằng tự viễn phương lai, bất diệc lạc hồ?” hữu lý chi lạ!

Tác giả Nguyễn Bảo Hưng của bài nghị luận văn học đặc sắc “Đi tìm thời gian đã mất” với Marcel Proust và mỗ tôi đã đồng thuận cho đăng trọn bài viết này (trong mục Văn học thế giới qua Việt ngữ ) vì chúng tôi nhận ra và xin cáo lỗi, do sơ xuất đã bỏ sót một đoạn quan trọng trong phần 2 mới đăng trước đây. ⁃⁃⁃ Nói đến Marcel Proust (người Pháp) thì phải nhắc đến hai đại danh đã ảnh hưởng trực tiếp đến lối viết văn mới lạ của Proust: tâm lý gia thực nghiệm William James (người Mỹ) và phân tâm gia Sygmund Freud (người Áo). À la recherche du temps perdu là tiểu thuyết quan trọng đầu tiên được viết theo xu hướng “dòng chảy ý thức” (ông James gọi nó là “stream of consciousness”). Lối viết này là một cuộc “độc thoại nội tâm” liên miên, trong đó những tư tưởng, cảm xúc, liên tưởng lấn át nhau rồi nhập vào với nhau, để tìm ra “cái tôi” đích thực được khơi dậy từ cõi lãng quên nào đó. ⁃⁃⁃ Vì bộ tiểu thuyết này vừa quá dài vừa không dễ đọc, nghị luận văn học “Đi tìm thời gian đã mất” với Marcel Proust của tác giả Nguyễn Bảo Hưng là một hành trang căn bản cần thiết cho quý vị nào trong chúng ta có đủ kiên nhẫn đi trọn hành trình trên 4.000 trang để tìm hiểu trọn vẹn tác phẩm văn học lớn nhất thế kỷ 20 này của văn hào Marcel Proust. Trong số những di ngôn bất hủ Proust để lại, mỗ tôi (một tâm hồn hoài cổ) tâm đắc nhất với câu “những thiên đường thực là những thiên đường người ta đã mất.” (“Les vrais paradis sont les paradis qu’on a perdus.”)

Quan hệ giữa Bảo Đại, Phạm Quỳnh, Ngô Đình Diệm, và Trần Trọng Kim do tác giả Nguyễn Tường Tâm trích lược từ cuốn hồi ký Con Rồng Việt Nam của Bảo Đại và cuốn hồi ký Một Cơn Gió Bụi của Trần Trọng Kim là một bài học lịch sử cận đại của nước Việt đáng tin cậy vì nó chính là tâm tư của hai tên tuổi lớn liên hệ đến thời cuộc rối ren từ khoảng 1932 (lúc Bảo Đại về nước) đến 1963 (khi Ngô Đình Diệm bị sát hại). ⁃⁃⁃ Dưới đây là một đoạn tiêu biểu ghi lại khi Trần Trọng Kim được Bảo Đại mời ra làm Thủ tướng: “Vua Bảo-Đại thấy tình thế kéo dài mãi cũng sốt ruột, triệu tôi [Trần Trọng Kim] vào bảo tôi chịu khó lập chính phủ mới. Ngài nói: Trước kia người mình chưa độc lập. Nay có cơ hội, tuy chưa phải độc lập hẳn, nhưng mình cũng phải tỏ ra có đủ tư cách để độc lập. Nếu không có chính phủ thì người Nhật bảo mình bất lực, tất họ lập cách cai trị theo thể lệ nhà binh rất hại cho nước ta. Vậy ông nên vì nghĩa vụ cố lập thành một chính phủ để lo việc nước. Tôi thấy vua Bảo Đại thông minh và am hiểu tình thế, liền tâu rằng: Nếu vì quyền lợi riêng tôi không dám nhận chức gì cả, nhưng Ngài nói vì nghĩa vụ đối với đất nước, thì dù sao tôi cũng cố hết sức. Vậy xin Ngài cho tôi vài ngày để tôi tìm người, hễ có thể được tôi xin tâu lại.”

Tác giả Lâm Văn Bé đóng góp một tiểu luận xuất sắc về địa lý, sử ký, và văn học mang tựa đề Nam Kỳ Lục Tỉnh: Đất nước và con người (đăng trong 3 mục: Địa lý, Lịch sử, Văn học). Tài năng và kiến thức quảng bác của Lâm quân khiến mỗ tôi nghĩ đến cái “série” hàn lâm bất hủ mang tên “Que sais-je?” (“Tôi biết gì đây?”) do Presses Universitaires de France (PUF) xuất bản. Học trò an tâm mỗi khi dùng série soạn thảo nghiêm túc và súc tích này để ôn tập bài vở trước các kỳ thi, từ lâu lắm rồi cho đến tận ngày nay. ⁃⁃⁃ Thú thực, mỗ chủ biên đã giật mình sau khi đọc hết bài tiểu luận sắc bén này của Lâm quân, vì đã thấy rõ kiến thức kém cỏi của mình về địa dư, sử ký, văn chương, và lối sống thực của con người Nam Kỳ Lục Tỉnh thân thương! Nhưng muộn còn hơn không, mỗ tôi tự nhủ và thầm biết ơn người viết bài. Mỗ tôi tin chắc nhiều độc giả khác cũng đồng lòng với tác giả khi ông công tâm lên tiếng than phiền: “Chẳng những mảng văn học Nam Kỳ bị bỏ quên, bị bỏ qua mà còn bị chê bai là ấu trĩ. Trong suốt một phần tư thế kỷ (1950-1975), học sinh trung học đã phải học các sách giáo khoa Việt văn của các giáo sư Dương Quảng Hàm, Vũ Ngọc Phan, Phạm Thế Ngũ với đầy thiên kiến lệch lạc, bất công. Sách Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm chỉ giới thiệu có một nhà văn trong Nam là thi sĩ Đông Hồ (nhưng Đông Hồ, Mộng Tuyết lại viết văn cầu kỳ nên ít được độc giả Nam Kỳ ưa thích). Vũ Ngọc Phan trong Nhà Văn hiện đại giới thiệu được hai văn sĩ Nam Kỳ là Đông HồTrương Vĩnh Ký. Giáo sư Phạm Thế Ngũ, tác giả quyển Việt Nam văn học sử giản ước tân biên đã đi xa hơn bằng cách mạt sát nhà văn Nam Kỳ là ấu trĩ, độc giả Nam Kỳ là hạ lưu.” 

Bài viết uyên bác Đa dạng sinh học và con người (mục Môi trường) của khoa học gia Thái Công Tụng, vô tình hay hữu ý, phản ánh triết lý giáo dục đương thời trong học đường Mỹ, theo đó một bài học hữu hiệu nhất (để học trò thích thú, dễ hiểu, và dễ nhớ) phải là một “đơn vị chủ đề” (thematic unit) trình bày theo chiều hướng “đa phối cảnh” (multiperspective approach) với các thí dụ phù hợp. Phân tích nội dung và cách sắp xếp của bài viết, ta thấy: (1) Tựa đề bài viết là một đơn vị chủ đề tìm hiểu về “toàn bộ các môi trường tự nhiên và mọi hình thức cuộc sống trong đó có động vật, thực vật, khuẩn, vi khuẩn với mọi tương quan, tương thuộc giữa chúng và các môi trường; (2) Bốn phối cảnh qua chúng mà đa dạng sinh học được phơi bầy: (a) Vai trò kinh tế, (b) Vai trò xã hội và tâm linh, (c) Phật giáo / Kinh Địa Tạng / Kinh Pháp Cú, và (d) Bảo tồn; (3) Kho tàng thi ca Việt nằm trong trí nhớ Thái tiên sinh thật sung mãn và chính xác – nó đã cung cấp những thí dụ đắc địa trong các phối cảnh liên hệ. Dưới đây là một thí dụ rất nên thơ cho cái đa dạng của một môi trường sống trong đó có 3 yếu tố “ao”, “sông”, và “đèo”: Ao thu lặng lẽ nước trong veo (Nguyễn Khuyến) ⁃ Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp / Con thuyền xuôi mái nước song song (Xuân Diệu) ⁃ Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà / Cỏ cây chen lá lá chen hoa (Bà Huyện Thanh Quan).

Bài thơ Ngày buồn mãi về một sự ra đi (mục Văn học Việt ngữ) của tác giả Nguyễn Văn Sâm là để tưởng niệm nhà văn Túy Hồng mới mất ngày 19-7-2020 tại Seattle. Tên thực là Nguyễn Thị Túy Hồng, bà sinh năm 1938 tại Thừa Thiên. Gốc nhà giáo, bà viết văn từ năm 1962 và được Giải Nhất Văn Học Nghệ Thuật của VNCH năm 1970. Túy Hồng đồng thời với các nhà văn nữ khác là Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Thị Thụy Vũ, và Nhã Ca, cũng như với chồng là nhà văn Thanh Nam. Trong số nhiều tác phẩm của Túy Hồng, ta có thể kể “Vết thương dậy thì” (1966), “Tôi nhìn tôi trên vách” (1970), và “Những sợi sắc không” (đã mang lại cho Túy Hồng giải thưởng văn chương cao quý nêu trên).

Sau cùng, mỗ tôi xin được phổ biến hai sáng tác văn học đặc sắc: (1) Tập truyện ngắn Quê hương vụn vỡ (mục Điểm sách) của tác giả Nguyễn Văn SâmĐàm Trung Pháp được hân hạnh giới thiệu; (2) Truyện ngắn Dòng Dương-Tử uẩn khúc (tiểu mục Tùy bút, mục Văn học) của tác giả Lê Ngọc Huyền. Nhân dịp này mỗ tôi cũng xin cảm tạ hai vị đồng chủ biên TSVH Thái Công TụngNguyễn Văn Sâm đã kiên trì đóng góp bài vở và thường xuyên động viên tinh thần mỗ tôi, đồng thời ghi nhận thịnh tình đặc biệt mà tác giả (cũng là một độc giả trung thành) Lê Ngọc Huyền đã dành cho TSVH. Được biết Ngọc Huyền từ 12 năm nay là chủ bút cho tạp chí Ngọn Đuốc tại Montréal, và năm 2015 đã đoạt giải nhất với Văn Thơ Lạc Việt tổ chức quy mô trên toàn thế giới viết về kỷ niệm buồn vui trên quê hương Việt Nam.

Kính chào quý tác giả và độc giả,

Đàm Trung Pháp