Thăng Long: Trung tâm định hình văn hóa

THĂNG LONG

Trung tâm định hình văn hóa

Lạp Chúc Nguyễn Huy

Thăng Long Hà Nội đô thành,

Nước non ai vẽ nên tranh họa đồ.

Trong thời quân chủ dựa trên kinh tế nông nghiệp, kinh đô Thảng Long giữ vai trò trung tâm chính trị, văn hóa. Khi vai trò này được Huế thay thế thì Thăng Long trở lại thành cái làng lớn nhưng vẫn giữ lại vai trò văn hóa mà chúng ta tìm hiểu trong phần này.

Thăng Long-Hà Nội là kinh đô truyền quốc của người Việt từ hồi Bắc thuộc. Tùy theo thăng trầm của lịch sử, địa danh Thăng Long-Hà Nội[1] thay đổi nhiều lần[2] và ghi lại

những trang sử bi hùng tráng của dân Việt:

Mấy tòa sen héo, hơi hương ngự,

Năm thức mây phong nếp áo chầu.

Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt

Nước còn cau mặt với tang thương.

Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,

Nền cũ lâu đài bóng tịch dương!

Vai trò văn hóa của kinh đô

Trong nền kinh tế nông nghiệp trước đây, kinh đô Thăng Long là cái làng lớn nhất trong nước tập trung các sinh hoạt văn hóa :

– Văn học : quan lại, trí thức, tao nhân mặc khách,

– Nghệ thuật : nghệ sĩ ca múa, thợ kiến trúc, điêu khắc tài ba, đặc biệt là ca trù được UNESCO công nhận ngày 1-10-2009 là di sản văn hóa phi vật chất của nhân loại[3].

– thương mại : Thăng Long còn gọi là Kẻ Chợ vì là nơi kết tụ của nhiều luồng thương mại nhất là thực phẩm ngon, lạ, quí để dâng vua và các quan lại trí thức.

Vai trò văn hóa thiết yếu của kinh đô là bốn K : Kết tụ, Kết tinh, Kết giao, Khai tỏa.

Thăng Long là nơi « Kết tinh » các sắc thái văn hóa trên. Thí dụ kết tinh trong văn hóa ẩm thực, người Hà Nội tiếp nhận thực phẩm tươi ngon, các món ăn nổi tiếng từ Tứ Trấn mang đến rồi người Hà Nội biết chọn lọc, thưởng thức hoặc chế biến lại để trở thành món ăn của Hà Nội.

Với vai trò là trung tâm văn hóa trung ương lớn giữa cả ngàn trung tâm văn hóa nhỏ (chùa, đình) của làng xã, Thăng Long vừa sáng tạo văn hóa Việt vừa « Kết giao » với văn hóa của vùng Viễn Đông như Kinh dịch, Tam Giáo, triết lý, văn học, nghệ thuật Trung Hoa… để đặt nền tảng cho một nước Việt văn hiến.

Với vị thế kinh đô, Thăng Long tập trung các văn vật của đất nước, tạo nên nếp sống văn hóa trong phong cách đời sống của dân Việt để rồi « Khai tỏa » ra từ cái cực đó ra khắp nơi. Nhờ vậy mà Thăng Long đã xây dựng nên một nước Việt Nam văn hiến và một mảnh đất « Ngàn năm văn vật » làm nơi phát triển văn hóa Việt.

Tứ trấn

Ngày xưa, muốn đi vào hoàng thành Thăng Long thì người dân đi qua 5 cửa ô chính là cửa ô Đông Mác, Cầu Dền, Cầu Giấy, Chợ Dừa và ô Quan Chưởng.

Bảo vệ Thăng Long thì có hai vòng đai : Tứ trấn tâm linh và tứ trấn quân sự.

Vòng đai Tứ Trấn tâm linh (Thăng Long tứ trấn)[4]

Vòng đai được xây dựng từ thời nhà Lý (1010) là bốn ngôi đền thờ 4 võ tướng bảo vệ 4 cửa ngõ kinh thành :

Trấn đông là đền Bạch Mã thờ thần Long Đỗ,

Trấn Tây là đền Voi Phục thờ thần Linh Lang Đại Vương,

Trấn Nam là đền Kim Liên thờ thần Cao Sơn,

Trấn Bắc là đền Quan Thánh có tử đời Lý Thái Tổ (1010-1028) thờ thần Huyền Sơn Trấn Vũ. Bốn đền tạo nên một cảnh quan văn hóa tín ngưỡng của Thăng Long.

Vòng đai Tứ Trấn quân sự (nội trấn)

Vòng đai gồm bốn trấn quân sự bảo vệ bốn phía Kinh thành : Kinh Bắc (bắc), Sơn Nam (nam), Hải Dương (đông), Sơn Tây (tây)[5].

Văn hiến chi bang

Suốt chiều dài lịch sử, từ nhà Lý đến cuối đời Lê, Thăng Long đã xây dựng một

« văn hiến chi bang » bằng:

– kiến thiết đền đài, kinh thành, văn miếu, ban hành luật pháp…

– tiếp thu văn hóa Trung Hoa khiến Lê Qui Đôn viết :« bất dị Trung Quốc » « vô tốn Trung Quốc » (không khác không thua Trung Quốc)

– tập trung văn vật của nước tạo nên một phong cách sống, thể hiện bản sắc của dân tộc Việt Nam không chỉ ở « núi sông bờ cõi đã chia » mà còn ở « Phong tục Bắc Nam cũng khác ». Nhờ vậy mà nước Đại Việt xưng là « văn hiến chi bang » như Nguyễn Trãi viết trong Bình Ngô Đại Cáo;

Như nước Đại Việt ta,

Thật là một nước văn hiến.

(Duy ngã Đại Việt chi quốc

thực vi văn hiến chi bang.)

Ngàn năm văn vật

Thăng Long là đất ngàn năm văn vật[6], nơi ngưng tụ vượng khí của đất nước tức là nơi tập họp nhân tài, có nhiều công trình kiến trúc, văn hóa tạo nên một nếp sống thanh cao về văn học, nghệ thuật, ngôn ngữ, xã giao, ăn mặc, ẩm thực… Văn vật là những ai? Là quan lại, thợ thủ công tài ba, thương nhân buôn bán, trí thức, văn nghệ sĩ như sư Vạn Hạnh, Trần Thái Tông, Nhân Tông, Lê Thánh Tông, Ngô Sĩ Liên, Lê Văn Hưu, Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Du, Lãn Ông, Tú Xương, Tản Đà, Nhất Linh, Khái Hưng…

Một ngàn năm văn vật của Thăng Long kể từ khi :

– Cố đô Cổ Loa thời Âu Lạc, trị sở Tống Bình thành Đại La thời tiền Thăng Long,

– Định đô Thăng Long của vua Lý Thái Tổ rồi Thăng Long-Đông Đô-Đông Kinh-Kẻ Chợ từ thời Lý đến Lê trung hưng,

-Hà Nội thời Nguyễn.

Kiến trúc

Ngay khi định đô tại Thăng Long[7], nhà Lý đã cho xây Hoàng Thành với cửa Đại Hưng, cửa Nam của thành Thăng Long làm lối ra vào của vua quan, trước cửa có dựng đình Quảng Văn làm nơi nghênh xuân[8] của các vua nhà Lý.

Tháp Hòa Phong ở đông nam hồ Hoàn Kiếm, di tích còn sót lại của chùa Báo Ân.Tháp có 3 tầng, tầng 1 có 4 cửa vòm nên gọi là Tứ Môn Pháp; tầng 2 trên mỗi cửa vòm có ghi Báo Ân môn, Báo Nghĩa môn, Báo Đức môn, Báo Nghĩa môn.

Kiến trúc độc đáo là Chùa Một Cột (chùa Diên Hựu) được vua Lý Thái Tông cho xây dựng vào năm 1049.

Khuê Văn Các[9], Cầu Thê Húc [10] trên hồ Hoàn Kiếm.

Thi cử, văn học, luật pháp…

Năm 1070, vua Lý Thánh Tông dựng văn miếu, mở quốc tử giám (1076), mở khoa thi đầu tiên, rồi đặt phép khoa thi cứ ba năm một kỳ, lấy trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa.

Văn học nhữ nôm với Hàn Thuyên nhưng biểu chương, công văn vẫn dùng chữ hán.

Thời Trần định lệ thi hương, thi hội, thi đình, sách vở tứ thư ngũ kinh,

Thời nhà Minh : đập phá văn bia, đốt sách, định y phục giống người Tầu.

Đời Lê trọng nho giáo nên chế độ đào tạo nho sĩ có qui củ, năm 1483 Lê Thánh Tông ban hành luật Hồng Đức thi hành cho đến cuối thế kỷ XVIII, lập hội Tao Đàn, văn hóa chữ nôm phát triển như Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi.

Tại kinh thành, nhiều trung tâm thủ công nghiệp xuất hiện, chia làm 36 phố, 36 nghè (phường), mỗi phố là một cái chợ có cửa cổng ở trên có lầu canh gác. 36 phố phường có một điểm chung là Văn Hóa làng, mỗi phố một Đình thờ tổ nghề.

Phố ngoài bọc kín thành trong,

Cửa Nam, Giam, Bắc, Tây, Đông rõ ràng.

Về văn hóa ẩm thực, Thăng Long nổi tiếng ăn ngon với câu ca tụng « Ăn Bắc mặc Kinh[11] » được các văn nghệ sĩ Nguyễn Tuân, Vũ Bằng mô tả như chả cá Lã Vọng, bánh cuốn Thanh Trì[12], cốm làng Vòng (Hà Nội)[13], thơm ngon đặc biệt phở Hà Nội[14]

Không gian văn hóa, ngôn ngữ (tiếng Hà Nội), lối sống kiểu cách thanh tao (thanh lịch Tràng An), cảnh vẻ, kén chọn và hành vi xã hội là các khuôn triện đóng dấu bản sắc văn hóa Hà Nội đại diện cho văn hóa toàn quốc. Kẻ Chợ là nơi tập trung truyền thống ẩm thực từ nhiều địa phương đem tới nên dân Hà Nội theo « gu » của tầng lớp quí tộc, trí thức có nhiều lựa chọn luôn luôn được nuôi nấng bởi cái gu dân dã, chịu ảnh hưởng của nhiều triều đại vua. Nhiều phường chuyên về cung cấp ẩm thực như Hàng Gạo, Hàng Bột, Hàng Cá, Hàng Giò, Hàng Bún…cung cấp hàng quà như bánh cốm Hàng Than, bánh giò Dờ Măng (Phùng Hưng),

Một số sản phẩm khác đem từ nông thôn ra : bánh cuốn Thanh Trì (Hà Đông), cốm vòng, bánh đậu (Hải Dương, Hưng Yên),vải Thiểu (Thanh Hà, Hải Hưng là quà « tiến » lên vua), cam Bố Hạ (Phú Thọ)…

Tóm lại, chiều dày lịch sử cả ngàn năm của trung tâm văn hóa Thăng Long đã được một tác giả Pháp De la Liraye tóm tắt năm 1877 như sau :« Bien que Ke Cho[15] ne soit phus la résidence royale, c’est encore la première ville du royaume, pour les arts, l’industrie, le commerce, la richesse, la population, le savoir vivre et les études….C’est là que viennent les hommes de lettres…»

CƯỚC CHÚ

  1. Hà Nội nghĩa là trong sông, nằm giữa sông Hồng và sông Đáy

  2. Long Biên vảo thời nhà Hán, là trị sở của Giao Châu, Long Đỗ thời nhà Đường,Tống Bình (thế kỷ VI), Đại La Thành (năm 767) làm trị sở An Nam đô hộ phủ từ năm 679, Thăng Long sau khi Lý Thái Tổ dời đô về thành Đại La trên đất Tống Bình, Đông Kinh đời nhà Lê vì Thanh Hóa có Tây Đô, Đông Quan thời nhà Minh xâm lăng, Bắc Thành thời vua Gia Long, Hà Nội năm 1831 thời vua Minh Mạng

  3. Sau Cách Mạng tháng Tám, ca trù bị cấm đoán và bị coi như « trò chơi hư hỏng, trụy lạc ». Năm 1980, ca nương Quách Thị Hồ dùng ca trù để lồng nội dung ca tụng đảng cộng sản trong bài « Những mùa Xuân ». Từ 1990, ca trù và hát chầu văn được tự do trình diễn.

  4. Thăng Long còn có Tứ Quán thờ thần linh thuộc Đạo Lão : quán Trấn Vũ (tức đền Trấn Vũ), quán Huyền Thiên, quán Đồng Thiên, quán Đế Thích

  5. Người xưa thường gọi : xứ Đoài (Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hà Tây), xứ Đông (Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng). Xứ Nam (Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình), xứ Bắc (Bắc Ninh, Bắc Giang). Năm 1490, bản đồ cả nước gồm 13 xứ thừa tuyên sau đổi thành trấn

  6. Văn là đẹp; Vật : nhân vật, nhân tài tạo ra văn hiến tức văn hóa. Văn vật : nơi có nhiều người tài giỏi có học và là nơi có nhiều nhân tài, di tích lịch sử, văn học, kiến trúc. Theo tự điển hán việt của Đào Duy Anh, văn vật là những sản vật của văn hóa như lễ nhạc, chế độ

  7. Theo phong thủy, Thăng Long là đầu rồng, vùng Sơn Nam và Hải đông là đuôi rồng, Thanh Hóa là ổ rồng. Vì thiếu điều kiện phong thủy, đắp thêm gò đống đặt là Tam Sơn, Khán Sơn, Thái Hòa để ăn nhịp với nguồn nước Nhị hà.

  8. Hiện nay chỉ còn dấu tích xưa là những tên phố : Đình Ngang (nơi xét giấy tờ, thẻ bài trước khi vào Hoàng Thành), Cấm Chỉ :dừng nơi khu cấm

  9. Gác có vẻ đẹp của sao Khuê

  10. Nghĩa là nơi đậu ánh sáng mặt trời buổi ban mai do Thần Siêu Nguyễn Văn Siêu cất năm 1865

  11. Hà Nội có truyền thống ăn ngon nên thường nói ăn Bắc, mặc Kinh tức kinh đô Huế, từ cung đình đến o bán bún đều mặc áo dài chỉnh tề

  12. Bánh mỏng, trắng trong, dẻo và thơm tự nhiên của gạo

  13. Làng Vòng, xã Dịch Vọng, huyện Từ Liêm, cốm làm tử nếp cái hoa vàng

  14. Hà Nội được bao quanh bởi 4 xứ Đông, Nam, Đoài, Bắc làm thành một vòng đai xanh cung cấp cho Thăng Long

    Đông: bánh đậu xanh Rồng Vàng Hải Dương, bánh gai Ninh Giang, rươi Thanh Hà

    Nam :bánh cuốn, gỏi cá chuối ngự Đại Hoàng

    Đoài: nem Phùng, cốm vòng, chả giò Ước Lễ

    Bắc: nem Báng, tương Bần…

    Hà Nội kết tinh, thanh lịch hóa các món quà quê, Kẻ Chợ là nơi giao lưu văn hóa ẩm thực

  15. Cho đến khi Pháp đến, chỉ có một « kẻ chợ » một đô thị là Thăng Long-Đông Hồ (Hà Nội), còn tất cả là « chợ

    quê » với cơ cấu xã hội làng xóm, tính chất xã hội cộng đồng công xã, văn hóa xóm làng