Trường thi Bình Định

TRƯỜNG THI BÌNH ĐỊNH

ĐÀO ĐỨC CHƯƠNG

Từ thời Gia Long (嘉 隆) đến Thiệu Trị (紹 治), sĩ tử các tỉnh từ Quảng Ngãi đến Bình Thuận được phân phối ứng thí như sau: Các tỉnh từ Đèo Cả trở ra thi ở Trường Thừa Thiên, từ Đèo Cả trở vào thi ở Trường Gia Định.

Đến năm Canh Tuất (1850), Tự Đức thứ 3 (嗣 德), mới bắt đầu thành lập Trường thi Bình Định [1] để nhận thí sinh các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa. Về sau, Trường Bình Định còn nhận thêm thí sinh của tỉnh Bình Thuận rồi Ninh Thuận. Nếu không kể Trường thi An Giang lập năm 1863, mở một khoa rồi phải xóa tên vì bị Pháp chiếm, thì có thể nói Trường thi Bình Định là trường thứ 7, ra đời muộn nhất, sau cả Trường Thanh Hoá được tái sinh (1848).

I – VÀI NÉT SƠ LƯỢC

Trường thi Bình Định được xây dựng trên vùng đất gò, thuộc thôn Hòa Nghi, tổng Thời Đôn, huyện Tuy Viễn, phủ An Nhơn; nay là thôn Hòa Nghi, phường Nhơn Hòa, thị xã An Nhơn. Trường thi nằm phía Tây Nam thành Bình Định và hữu ngạn Nam Phái sông Côn, lại gặp khúc cong nên 3 mặt Tây, Bắc, Đông đều có sông ngăn cách, tiện cho việc canh phòng. Khu vực trường thi là một cái nền rộng, chu vi chừng 1000 mét, cao gần 2 mét, xây bằng đá ong, mặt nền bằng phẳng và lộ thiên. Đến kỳ mở khoa thi, quan tỉnh mới sai dựng hàng rào dày xung quanh, cất nhà tạm cho quan trường và chia vi cho thí sinh.

Ngày thi, sĩ tử được gọi vào vi đã phân lô, tự cất lều để làm bài suốt một ngày. Tuyệt đối không được qua lại lều người khác trong giờ thi.

Khoa Nhâm Tý (1852), Tự Đức thứ 5, Trường Bình Định mở khoa thi đầu tiên. Bộ Lễ quy định số người đỗ Cử nhân trên toàn quốc mỗi khóa là 124 người, phân định cho các trường như sau: Thừa Thiên lấy đậu 20 người, Nghệ An 18 người, Thanh Hóa 20, Nam Định 20, Hà Nội 20, Bình Định 13 và Gia Định 13.

Bộ Lễ cũng đã xếp trường Bình Định vào nhóm Trường Thừa Thiên, Nghệ An, Gia Định, tổ chức thi Hương vào tháng bảy âm lịch ở những năm Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu (định lệ về năm, đôi khi không thực hiện đúng) còn nhóm thứ hai gồm Trường Thanh Hóa, Nam Định, Hà Nội, thi vào tháng chín những năm trên.

H 1: Thầy Đồ mở trường dạy học tại gia.

(Nguồn: Hình Ảnh Xưa Việt Nam)

Tính từ khoa Nhâm Tý (1852), Tự Đức thứ 5, đến khoa Mậu Ngọ (1918), Khải Định thứ 3 (啟 定) là năm chấm dứt vĩnh viễn nền Nho học, triều đình nhà Nguyễn đã mở 29 khoa thi Hương. Trường thi Bình Định chỉ tham dự 23 khoa, còn 6 khoa trường này không tổ chức thi bởi các lý do:

– Năm 1859, liên quân Pháp và Tây Ban Nha đánh chiếm thành Gia Định. Rồi năm 1861, các tỉnh Định Tường, Biên Hòa thất thủ. Tiếp đến 1862 triều đình ta phải nhường ba tỉnh Miền Đông Nam Kỳ cho Pháp. Biến cố dồn dập, đất nước có rất nhiều việc cấp bách phải giải quyết, nên Trường thi Bình Định tạm đóng cửa. Vì vậy, khoa thi năm Tân Dậu (1861), Tự Đức thứ 14, sĩ tử ở Trường Bình Định phải ra Huế thi chung với Trường Thừa Thiên. Còn khoa thi năm Giáp Tý (1864) thì theo lệ cũ, nghĩa là các tỉnh từ Phú Yên tới Quảng Ngãi ra thi ở Trường Thừa Thiên; các tỉnh từ Khánh Hòa đến Bình Thuận vào thi ở Trường An Giang (thay thế cho Gia Định)

Năm Quý Dậu (1873), Tự Đức thứ 26, đúng hạn kỳ mở khoa thi Hương trên toàn quốc (không kể Nam Kỳ đã bị Pháp chiếm), thì ở Bắc Kỳ lại gặp biến (Hà thành thất thủ lần thứ nhất). Các Trường thi Hà Nội và Nam Định không thi được, nên triều đình mở khoa Giáp Tuất (1874) với tính cách là khoa Quý Dậu triển hạn, để sĩ tử hai trường trên ứng thí. Trường Bình Định đã mở khoa Quý Dậu nên không mở khoa này.

Trường Bình Định còn bị gián đoạn ba khoa nữa. Đó là khoa Bính Tuất (1886), Đồng Khánh nguyên niên (同 慶), trường Bình Định đã thi xong ở khoa Ất Dậu (1885) nên nay không thi nữa. Đến khoa thi năm Đinh Hợi (1887), Đồng Khánh thứ 2, Phong trào Cần Vương ở các tỉnh Miền Nam Trung Kỳ đang lúc sôi động, nên Trường Bình Định không mở được khoa thi, và sĩ tử miền này cũng không ra Huế ứng thí. Rồi khoa thi năm Mậu Tý (1888), Đồng Khánh thứ 3, tình hình chưa ổn định, Trường Bình Định vẫn bị đình, và chỉ một ít sĩ tử miền này ra Huế thi chung với Trường Thừa Thiên.

Căn cứ vào Quốc Triều Hương Khoa Lục của Cao Xuân Dục, 23 khoa thi của Trường Bình Định gồm:

1 – Khoa Nhâm Tý (1852), Tự Đức thứ 5 (嗣 德), lấy đỗ 13 Cử nhân. Trong đó, Bình Định 11, có Giải nguyên; Quảng Ngãi 2, có Á nguyên.

2 – Khoa Ất Mão (1855), Tự Đức thứ 8, lấy đỗ 13 Cử nhân: Bình Định 4, có Giải nguyên; Quảng Ngãi 7, có Á nguyên; Phú Yên 2.

3 – Khoa Mậu Ngọ (1858), Tự Đức thứ 11, lấy đỗ 13 Cử nhân: Bình Định 7, có Giải nguyên; Quảng Ngãi 6, có Á nguyên.

4 – Khoa Đinh Mão (1867), Tự Đức thứ 20, lấy đỗ 18 Cử nhân: Bình Định 14, chiếm cả Giải nguyên lẫn Á nguyên; Quảng Ngãi 4. Kể từ khoa này, trường Bình Định nhận thí sinh của Bình Thuận.

5 – Khoa Mậu Thìn (1868), Tự Đức thứ 21, lấy đỗ 15 Cử nhân: Bình Định 8; Quảng Ngãi 7, chiếm cả Giải nguyên lẫn Á nguyên.

6 – Khoa Canh Ngọ (1870), Tự Đức thứ 23, lấy đỗ 16 Cử nhân: Bình Định 7; Quảng Ngãi 8, chiếm cả Giải nguyên lẫn Á nguyên; Phú Yên 1.

7 – Khoa Quý Dậu (1873), Tự Đức thứ 26, lấy đỗ 15 Cử nhân: Bình Định 8, có Giải nguyên; Quảng Ngãi 4; Phú Yên 1; Bình Thuận 2, có Á nguyên.

8 – Khoa Bính Tý (1876), Tự Đức thứ 29, lấy đỗ 12 Cử nhân: Bình Định 7, có Á nguyên; Quảng Ngãi 3, có Giải nguyên; Phú Yên 1; Bình Thuận 1.

9 – Khoa Mậu Dần (1878), Tự Đức thứ 31, lấy đỗ 11 Cử nhân: Bình Định 6, có Giải nguyên; Quảng Ngãi 5, có Á nguyên.

10- Khoa Kỷ Mão (1879), Tự Đức thứ 32, lấy đỗ 8 Cử nhân: Bình Định 5, có Á nguyên; Quảng Ngãi 3, có Giải nguyên.

11- Khoa Nhâm Ngọ (1882), Tự Đức thứ 35, lấy đỗ 11 Cử nhân: Bình Định 6, có Á nguyên; Quảng Ngãi 5, có Giải nguyên.

12- Khoa Giáp Thân (1884), Kiến Phúc thứ 1 (建 福), lấy đỗ 18 Cử nhân: Bình Định 12, có Á nguyên; Quảng Ngãi 5, có Giải nguyên; Phú Yên 1.

13- Khoa Ất Dậu (1885), Hàm Nghi thứ 1 (咸 宜), lấy đỗ 8 Cử nhân: Bình Định 7, chiếm cả Giải nguyên và Á Nguyên; Phú Yên 1. Quảng Ngãi bỏ thi.

14- Khoa Tân Mão (1891), Thành Thái thứ 3 (成 泰), lấy đỗ 17 Cử nhân: Bình Định 10, có Giải nguyên; Quảng Ngãi 4, có Á nguyên; Phú Yên 1; Khánh Hoà 1; và Bình Thuận 1.

15- Khoa Giáp Ngọ (1894), Thành Thái thứ 6, lấy đỗ 19 Cử nhân: Bình Định 9, có Á nguyên; Quảng Ngãi 5, có Giải nguyên; Phú Yên 1; Khánh Hòa 1; Bình Thuận 1; và các tỉnh khác 2.

16- Khoa Đinh Dậu (1897), Thành Thái thứ 9, lấy đỗ 18 Cử nhân: Bình Định 9; Quảng Ngãi 6, chiếm cả Giải nguyên lẫn Á nguyên; Phú Yên 2; Khánh Hòa 1.

17- Khoa Canh Tý (1900), Thành Thái thứ 12, lấy đỗ 24 Cử nhân: Bình Định 9; Quảng Ngãi 10, chiếm cả Giải nguyên lẫn Á nguyên; Phú Yên 1; Khánh Hòa 1; Bình Thuận 3.

18- Khoa Quý Mão (1903), Thành Thái thứ 15, lấy đỗ 18 Cử nhân: Bình Định 8, có Giải nguyên; Quảng Ngãi 5; Phú Yên 1; Bình Thuận 1; các nơi khác 3, người Hà Nội đoạt Á nguyên. Kể từ khoa này có thêm thí sinh tỉnh Phan Rang (tức Ninh Thuận).

19- Khoa Bính Ngọ (1906), Thành Thái thứ 18, lấy đỗ 24 Cử nhân: Bình Định 12, chiếm cả Giải nguyên lẫn Á Nguyên; Quảng Ngãi 3; Phú Yên 3; Khánh Hòa 2; Bình Thuận 1; các nơi khác 3.

20- Khoa Kỷ Dậu (1909), Duy Tân thứ 3 (維 新), lấy đỗ 16 Cử nhân: Bình Định 7, chiếm cả Giải nguyên lẫn Á nguyên; Quảng Ngãi 2; Phú Yên 1; Ninh Thuận 2 (tỉnh mới lập, từ năm 1901 đến 1913); Bình Thuận 1; các nơi khác 3.

21- Khoa Nhâm Tý (1912), Duy Tân thứ 6, lấy đỗ 18 Cử nhân: Bình Định 8, có Á nguyên; Quảng Ngãi 5, có Giải nguyên; Khánh Hòa 1; Ninh Thuận 1; các nơi khác 3.

22- Khoa Ất Mão (1915), Duy Tân thứ 9, lấy đỗ 18 Cử nhân: Bình Định 10, có Giải nguyên; Quảng Ngãi 1; Phú Yên 3, có Á Nguyên; các tỉnh khác 4. Tỉnh Ninh Thuận giải thể [2], thí sinh lại nhập vào hai tỉnh Khánh Hòa và Bình Thuận.

23- Khoa Mậu Ngọ (1918), Khải Định thứ 3 (啟 定), lấy đỗ 12 Cử nhân: Bình Định 2; Quảng Ngãi 4, có Giải nguyên; Phú Yên 2; các nơi khác 4, người Quảng Nam đoạt Á nguyên.

Trên danh nghĩa, Trường thi Bình Định đã đóng góp cho nền Nho học 23 khoa thi Hương, nhưng trên thực tế chỉ có 22 lần thi tại Trường Bình Định. Vì lần thi cuối cùng, khoa Mậu Ngọ (1918), sĩ từ miền này phải vác lều chõng ra Huế để thi ở Trường Thừa Thiên. Nhưng danh sách thí sinh, hạn ngạch lấy đậu và bảng trúng tuyển đều lập riêng, không dính dự gì đến sĩ tử Trường Thừa Thiên.

Số chỉ định trúng tuyển Cử nhân ở Trường thi Bình Định, mỗi khóa 13 người. Quy định ấy, giữ đúng được 3 khóa đầu; kể từ lần thứ 4, tức khoa Đinh Mão (1867), không còn tuân thủ nữa.

Tổng kết, Trường thi Bình Định đã cung cấp cho đất nước 355 Cử nhân Nho học. Trong đó, Bình Định 186 người, có 12 Giải nguyên và 10 Á nguyên. Quảng Ngãi 104 người, có 11 Giải nguyên và 9 Á nguyên. Phú Yên 22 người, có 1 Á nguyên. Khánh Hòa 7 người. Ninh Thuận 3 người. Bình Thuận 11 người, có 1 Á nguyên. Và sĩ tử các vùng khác tạm trú tại vùng này đỗ 22 người, có 2 Á nguyên. Đó là trường hợp con của các quan theo cha đến lỵ sở, công chức đang làm việc.

Những người đỗ Cử nhân trẻ nhất của Trường Bình Định là các ông: Văn Vĩ người thôn Hữu Pháp, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định, đỗ hạng 12/12, khoa Mậu Ngọ (1918), lúc 16 tuổi. Rồi đến Trần Quý Hàm người thôn Tri Thiện, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định, đỗ Á nguyên (2/24) khoa Bính Ngọ (1906), lúc 18 tuổi. Và Nguyễn Thuyên người thôn Nam An, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, đỗ thứ 20/24, khoa Bính Ngọ (1906), lúc 20 tuổi.

Những người lớn tuổi nhất còn vác liều chõng đi thi và đỗ Cử nhân ở Trường thi Bình Định là các ông: Phan Hành người thôn Biểu Chánh, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định, đỗ hạng 8/18, khoa Quý Mão (1903), lúc 55 tuổi. Võ Văn Quý người huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi, đỗ hạng 4/19, khoa Giáp Ngọ (1894), lúc 53 tuổi. Và Đinh Hữu Quang người thôn Hưng Lạc, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định, đỗ hạng 13/19 cũng khoa Giáp Ngọ, lúc 52 tuổi.

Trường thi Bình Định có những khoa thi mà danh sách thí sinh trúng tuyển khi bộ duyệt lại, phải thay đổi ở giờ chót: hoặc bị truất bớt, hoặc được thêm vào. Xem ra, việc chọn người trúng tuyển ngày xưa rất cẩn trọng, phải qua hai lần duyệt xét, ở trường thi và ở trung ương, mới được chính thức đỗ.

– Bộ truất vì có bài bị điểm liệt: Khoa thi Mậu Thìn (1868), trường thi Bình Định do Bố chánh Quảng Yên là Lê Hữu Tá làm Chủ khảo, Toản tu Sử quán Phạm Quý Đức làm Phó Chủ khảo, đã lấy 18 người vào bảng Cử nhân. Bộ duyệt lại thấy Nguyễn Lương, Phạm Khởi và Lê Văn Cơ có bài bị điểm liệt, nên chỉ cho đỗ Tú tài. Bảng Cử nhân chỉ có 15 người chính thức đậu.

– Bộ truất vì không có bài được điểm bình trở lên: Khoa thi năm Bính Tý (1876) ban Giám khảo Trường Bình Định lập danh sách trúng tuyển là 15 người. Bộ duyệt lại, truất ba người cuối bảng Cử nhân là Nguyễn Bá Đệ, Trịnh Hữu Bằng và Trần Quang Khởi, chỉ cho đỗ Tú tài, vì thấy trong quyển thi không có điểm ưu hoặc bình.

– Bộ đánh hỏng vì bài trùng nhau: Việc xét duyệt ở bộ, không chỉ thông qua các số điểm Ban Giám khảo đã cho, mà còn xét rất kỹ từng bài thi. Chẳng hạn, khoa Kỷ Dậu (1909), trường Bình Định do Tham tri bộ Học Đặng Như Vọng làm Chủ khảo và Tế tửu Quốc Tử Giám Trần Tấn Ích làm Phó Chủ khảo, lấy đỗ 18 người. Bộ duyệt thấy bài kỳ nhất (môn văn sách) của Lê Toại (đậu thứ 15) và Đoàn Văn Mân (đỗ thứ 17) có ba bài trùng nhau và ba bài nhiều đoạn giống nhau, nên đánh rớt cả hai. Vậy chỉ còn 16 người chính thức đậu.

– Bộ truất vì bài thi có dấu lạ: Khoa thi Nhâm Tý (1912), Tham tri bộ Lại Trần Trạm và Đốc học Trường Hậu bổ Nguyễn Duy Tích được cử làm Chánh, Phó Chủ khảo Trường thi Bình Định, đã xếp Trần Tuân vào bảng Cử nhân và Vũ Liêm Sơn vào bảng Tú tài. Bộ duyệt lại, thấy quyển thi kỳ nhất của Trần Tuân, trong bài văn sách thứ tư ở trên chữ “đệ” có một dấu mực. Theo luật trường thi, phạm phải lỗi thiệp tích, tức là lỗi làm dấu bài để thông đồng với giám khảo. Dù là vết mực vô tình cũng quy tội, nên bộ giáng Trần Tuân xuống bảng Tú tài. Nhưng không phải lúc nào bộ cũng tìm cách bắt lỗi thí sinh mà Ban Giám khảo không thấy hoặc đã bỏ qua. Bộ còn duyệt xét vớt, hoặc ân giảm vài trường hợp:

– Bộ vớt vì có một bài điểm cao. Đó là trường hợp của Vũ Liêm Sơn ở khoa Nhâm Tý (1912), điểm hạn ngạch chỉ được đậu Tú tài, nhưng kỳ thi chữ Pháp có điểm trội hơn những người Tú tài khác, nên bộ vớt lên cho đỗ cuối bảng Cử nhân (18/18).

– Bộ còn gia ân cho trường hợp của Phạm Thiếu Am, huyện An Phước, tỉnh Ninh Thuận, thi khoa Kỷ Dậu (1909). Bài làm kỳ thứ 3 và kỳ phúc hạch (kỳ 4), chữ viết không giống nhau, nghi là có kẻ làm dùm bài. Nhưng được biết đương sự vừa thi xong thì ngã bệnh, sau khi nghe tin đỗ thứ 16/16 thì bệnh trở nặng và đã chết, nên bộ gia ân miễn xét, vẫn để cuối bảng Cử nhân y như Ban Giám khảo đã xếp hạng.

H 2: Sĩ tử vào trường thi mang theo lều chõng.

(Nguồn: Hình Ảnh Xưa Việt Nam)

II – TRƯỜNG THI TRONG LỊCH SỬ

Trước tình thế căn thẳng của đất nước, Pháp luôn luôn tìm cớ chiếm nốt 3 tỉnh Miền Tây Nam Kỳ; trong cuộc họp các quan đại thần vào những ngày đầu năm Ất Sửu (tháng 2- 1865), triều đình quyết định bỏ hẳn ý định dành lại 3 tỉnh Miền Đông. Từ nay chỉ dồn lực lượng giữ các tỉnh còn lại.

Đáp ứng với nhu cầu quốc phòng, tháng giêng năm Đinh Mão (1867), Tự Đức thứ 20, Trường thi Bình Định bắt đầu mở khoa thi Hương võ. Địa điểm thiết lập trường thi Hương võ không xa với trường thi Hương văn, chỉ cách ba thôn về phía Tây, và vẫn nằm bên hữu ngạn Nam Phái sông Côn. Đó là thôn An Thành, cùng tổng, huyện với thôn Hòa Nghi (thi Hương văn), nhưng nay An Thành thuộc xã Nhơn Lộc. Địa bàn thu nhận thí sinh Hương võ của trường cũng từ Quảng Ngãi đến Bình Thuận, và cũng theo lệ ba năm một lần mở khoa thi. Như vậy, chỉ sau Hương văn 3 khoa, Hương võ Bình Định đã cung cấp cho đất nước nhiều võ quan, trong giai đoạn dầu sôi lửa bỏng. Trường thi Bình Định lại một lần nữa không hổ danh, vì đã được thiết lập từ miền đất mang truyền thống thượng võ:

Ai về Bình Định mà coi

Con gái Bình Định múa roi, đi quyền.

(Ca dao)

Thế rồi, khoa thi Hương năm Ất Dậu (1885), các trường thi khác chưa đến ngày mở khoa, duy có Trường Bình Định đang thi, bỗng nghe hung tin kinh đô thất thủ, vua Hàm Nghi bôn đào. Hội đồng Giám khảo quyết định tiếp tục thi cho xong. Tuy nhiên, tinh thần sĩ tử không còn hăng hái nữa. Bảng đã yết kết quả kỳ nhất, nhưng thí sinh Quảng Ngãi vẫn kéo nhau ra về hết, chỉ còn lại sĩ tử Bình Định và một số ít các tỉnh khác ở nán lại, tiếp tục thi. Vào phúc hạch, chỉ có 8 người, đều được lấy đỗ cả.

Biến cố ở kinh đô đã kích thích lòng yêu nước của các sĩ tử. Bài Vịnh Sĩ Tử Ở Trường Thi Bình Định của tân khoa Mai Xuân Thưởng đã phản ánh rõ nét. Nguyên tác bằng chữ Nho, đã thất lạc, nay chỉ còn bài dịch của một khuyết danh:

Cửa trường tiếng dạ vẫn còn hơi,

Cờ nghĩa treo lên đã ngất trời.

Đạo trọng vua tôi mình dám quản,

Oán hờn người Pháp có đâu vơi.

Vậy, Mai Xuân Thưởng là ai, đã để lại những gì trong trang sử chống ngoại xâm của nước nhà?

Nhớ lại, khoa thi năm ấy, Trường thi Bình Định do Bố chánh Quảng Nam Bùi Tiến Tiên làm Chủ khảo. Ông nằm mộng thấy một bà lão đem biếu ông một cành mai mà chỉ có một bông nở to, nhụy vàng cánh trắng, tỏa hương dịu dàng thơm phức. Quan đỡ lấy nhành mai, đóa hoa độc nhất ấy rụng vào nghiên son, rồi bà lão biến mất. Tỉnh dậy, ông suy nghĩ mãi về điềm mộng ấy. Ông bèn xem trong danh sách trúng tuyển Cử nhân, thấy có một người họ Mai, đó là Mai Xuân Thưởng. Xem lại quyển thi, quả thấy văn chương có khí phách, đoán rằng người này sẽ làm nên nghiệp lớn.

Ngày xướng danh, quan Chủ khảo mời riêng Mai công vào phòng, nhắn nhủ: “Lúc này nước nhà còn hay mất, phần lớn là do nơi đám sĩ phu. Làm việc phải hết sức thận trọng.”

Khi ban áo mão cho các vị tân khoa, quan Chủ khảo tặng một bài thơ:

Sơn hà phong cảnh dị tiền niên,

山 河 風 景 異 前 年,

Hoành giám du khan thử địa huyền.

橫 鑑 蕕 看 此 地 懸。

Hận mãn xương môn trần ám ngoại,

恨 滿 昌 門 塵 暗 外,

Lệ linh văn viện bút đình biên.

淚 零 文 院 筆 停 邊。

Lịch triều giáo dục ân như hải,

曆 朝 教 育 殷 如 海,

Bát giải thanh danh phẩm thị tiên.

八 解 聲 名 品 是 仙。

Nhất dự y quan nan tự hủy,

一 預 衣 冠 難 自 毀,

Cương thường khán thử cổ anh hiền.

綱 常 看 此 古 英 賢。

Bản dịch trong Nước Non Bình Định:

Non sông xưa đã khác rày,

Gương “hoành công khí” nơi này còn treo.

Cửa Rồng hận ngất trần hiêu.

Bút hoa tuôn lệ tiêu điều viện văn.

Lịch triều lai láng biển ân,

Dự hàng bát tuấn thêm phần thanh cao.

Áo xiêm trót đã buộc vào,

Cương thường noi dấu anh hào nghìn xưa.

Việc quan Chủ khảo nằm mộng, viết theo Quách Tấn, chỉ là chuyện tương truyền. Có điều chắc chắn là sau khi lãnh áo mão Cử nhân vinh quy bái tổ về làng, Mai Xuân Thưởng bắt tay ngay vào việc mộ quân ứng nghĩa, và nhanh chóng trở thành lãnh tụ tài ba của Phong trào Cần Vương tỉnh Bình Định.

H 3: Điển hình một Hội Đồng Giám Khảo

thi Hương, 1897. (Hình Ảnh Xưa Việt Nam)

Hai mươi năm sau, 1905, Trường thi Bình Định lại xảy ra một sự kiện cũng liên quan đến lịch sử, không những hâm nóng bầu nhiệt huyết của các sĩ tử ở Bình Định mà còn là “một tiếng sét đánh vang lừng cả nước” (lời Huỳnh Thúc Kháng), mở đầu cho Phong trào Duy Tân Kháng Thuế ở Miền Trung (1908).

Năm ấy, ba vị đại khoa của tỉnh Quảng Nam là Trần Quý Cáp, Phan Châu Trinh và Huỳnh Thúc Kháng, cũng là ba nhà chí sĩ cách mạng, rủ nhau vào Nam tìm đồng chí. Lúc đi ngang qua Bình Định, ông Trần có quen với Nguyễn Quý Anh, con của học giả Nguyễn Thông, khi ấy cư ngụ tại tỉnh này, nên ghé lại thăm. Nhân lúc quan Bình Định mở kỳ thi Tuyển sinh, chuẩn bị cho khóa thi Hương năm tới (1906), ba nhà chí sĩ muốn dùng đề thi của quan trường làm tiếng chuông cảnh tỉnh giới sĩ tử. Đánh thức họ dậy, lo việc cứu nước, không nên đắm mãi trong giấc mộng khoa cử lỗi thời.

Hôm thi kỳ hai, sĩ tử đông đến sáu bảy trăm người. Viên Đốc học Bình Định là Hồ Trung Lượng, người huyện Duy Xuyên (Quảng Nam) đỗ Tiến sĩ 1892, vì nhà có tang nên không thể chủ trì cuộc thi, quan đầu tỉnh phải thay thế. Nhân cơ hội ấy, ba chí sĩ giả dạng sĩ tử chen vào trường thi, chia nhau hành động. Ông Trần làm đề phú, ông Phan làm đề thơ, ông Huỳnh lo việc xem xét tình hình. Bài làm, lấy một tên chung là Đào Mộng Giác, với ý nghĩa là đã tỉnh mộng. Quan trường ra đề phú là Lương Ngọc Danh Sơn, lấy vần “Cầu lương ngọc tất danh sơn” (tìm ngọc quý ở nơi núi đẹp có tiếng); và đề bài thơ là Chí Thành Thông Thánh (lòng chí thành, thấu suốt đạo thánh), diễn ra thất ngôn bát cú Đường luật. Hai ông đã nạp quyển như bao nhiêu thí sinh khác, nhưng văn không khai triển đầu bài, chỉ nhắm vào ý hướng khơi dậy lòng yêu nước, khuyên sĩ tử nên bỏ lối học cử nghiệp và mộng làm quan. Xong việc, cả ba ông vội lên đường, rời khỏi Bình Định.

Chấm quyển thi Đào Mộng Giác, quan trường sững sốt, choáng váng trước việc chẳng lành, nhưng không thể giấu nhẹm vì tin tức đã loan khắp. Các quan đành phải đệ quyển thi ấy về triều và khấu đầu chịu tội. Quan đầu tỉnh giận lắm, thét lính bủa vây, buộc phải tìm cho ra thủ phạm. Khổ cho đám sĩ tử vô tội, nhất là những thí sinh họ Đào bị nghi ngờ xét hỏi đủ điều. Người ta nhắm vào nhóm họ Đào làng Vinh Thạnh (của Đào Tấn) và nhóm họ Đào làng Biểu Chánh (của Đào Phan Duân), vì hai phái Đào này có nhiều người theo cử nghiệp. Trong khi ấy, ba chí sĩ đã vượt địa giới Bình Định, đang thong dong qua Phú Yên, trên đường vào Nam.

Sau đó, ông Trần Quý Cáp dịch ra Việt văn cả hai bài ấy, rồi nhờ ông Hồ Thanh Vân bí mật đem ra Bắc, chuyển cho Nguyễn Hải Thần để truyền bá trong đám nho sĩ Bắc Hà.

Nguyên văn bài Chí Thành Thông Thánh (志 誠 通 聖) của Phan Châu Trinh:

Thế sự hồi đầu dĩ nhất không,

Giang sơn vô lệ khấp anh hùng.

Vạn dân nô lệ cường quyền hạ,

Bát cổ văn chương thụy mộng trung.

Trường thử bánh niên cam thóa mạ,

Bất tri hà nhật xuất lao lung.

Chư quân vị tất vô tâm huyết,

Thỉnh hướng tư văn khán nhất thông.

Trần Quý Cáp dịch:

Ngoảnh lại giang sơn luống lửng lơ,

Anh hùng rầu rĩ khóc người sơ.

Muôn dân tôi tớ phường quyền mạnh,

Tám vế văn chương giấc ngủ mơ.

Dày mặt mỉa mai đành chịu mãi,

Thoát thân trói buộc biết bao giờ.

Người ta ai cũng tâm can ấy,

Nghĩ đến văn này đã thấm chưa?

Bài thơ trên và bài phú dưới đây, hiện nay có nhiều bản dịch hay hơn bản dịch của Trần Quý Cáp, nhưng bản đầu tiên vẫn có giá trị lịch sử vì đã được các nhà chí sĩ thuở ấy bí mật phổ biến khắp nơi.

Nguyên tác bài Lương Ngọc Danh Sơn Phú (良 玉 名 山 賦) có 6 vần, gồm 38 câu bằng chữ Nho. Tác giả đã dịch ra Việt văn qua thể thơ song thất lục bát, cả thảy 84 câu. Dưới đây là đoạn đầu và đoạn cuối:

Kìa Châu Á trong vòng hoàn hải,

Khi đồng bào vác nỗi mây tuôn,

Ngắm xem một cõi dinh hoàn,

Đều trông thấy kẻ lo buồn xiết bao.

Việc thế sự xôn xao sóng bể,

Mặt anh hùng rầu rĩ non sông,

Nói ra ai chẳng thẹn thuồng,

Sao ta cứ một cái lòng thế thôi?

Sực thấy chữ tương lai mà sợ,

Còn mơ màng giấc ngủ như không.

Ai ôi đứng dậy mà trông,

Nước ta một góc Á Đông kém gì!

Trên Hồng Lạc dưới thì Trần Lý,

Kể nhơn tâm sĩ khí ai bì.

Kìa xem Lãnh Biểu xưa kia,

Mã Nhi thuở nọ còn bia đành rành.

Một trận đánh Chiêm Thành đã khiếp.

Bấy nhiêu năm Chân Lạp mở cương.

Nước ta xưa vẫn phú cường

Những điều hay lạ có nhường chi ai.

. . . . . . . . . . . . . . .

Việc nhơn thế thử coi mà gẫm,

Vận tang thương một bóng xanh xanh.

Trời Nam bể Sở mông mênh,

Cái thân chích địa nghĩ mình xót xa.

Nhìn thu lạnh sương sa lác đác,

Cửa thần môn lén bước, buớc ra.

Ngất trời một giải xa xa,

Thuyền tiên trông đã vượt ra non thần.

Bến Dịch Thủy chần ngần đứng nghỉ,

Tiễn đưa người giọt lụy chứa chan.

Một lời như khóc, như than.

Thôi còn Lương Ngọc, Danh Sơn làm gì?

III – GÓP VÀO ĐẤT NƯỚC

Điều đáng nói là Trường thi Bình Định đã đóng góp cho đất nước những vị anh hùng cứu nước, những nhân tài, những bậc đại khoa.

1 – Ứng nghĩa Cần Vương:

Các thủ lãnh của Phong trào Cần Vương (1885) ở các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa hầu hết xuất thân từ Trường thi Bình Định:

– Lê Trung Đình (黎 中亭; 1863 – 1885) đỗ Cử nhân thứ 17/18 khoa Giáp Thân (1884), người thôn Phú Nhơn, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi; nay thuộc xã Tịnh Ấn, huyện Sơn Tịnh. Ông là lãnh tụ Phong trào Cần Vương tỉnh Quảng Ngãi.

– Nguyễn Tự Tân (阮 自 新; 1848 – 1885), đỗ Tú tài khoa Mậu Thìn (1868), người làng Trung Sơn, nay là thôn Phước Thọ, xã Bình Phước, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Ông cùng Lê Trung Đình và Vũ Hội dựng cờ khởi nghĩa, chiếm tỉnh thành Quảng Ngãi được 5 ngày.

– Đào Doãn Địch (陶 允 迪; 1833 – 1885) tên thật là Đào Tăng Sắt, tự là Doãn Địch, hiệu là Cao Mô. Người làng Tùng Giản, tổng Vân Dương, huyện Tuy Phước, phủ An Nhơn (nay là thôn Tùng Giản, xã Phước Hòa, huyện Tuy Phước), tỉnh Bình Định. Ông đỗ Tú tài khoa Mậu Dần (1878) tại trường thi Bình Định.

Tháng 7- 1885, được tin Dụ Cần Vương, Hồng lô tự Thiếu khanh Đào Doãn Địch chiêu mộ 600 quân, khởi lên ứng nghĩa, chiếm thành Bình Định, bắt Tổng đốc Nguyễn Thận. Ông lên thay, điều hành công việc trong tỉnh dưới ngọn cờ Cần Vương, vì thế dân chúng gọi là Tổng đốc Đào Doãn Địch. Quân Pháp từ Qui Nhơn kéo lên, ông chận giặc tại núi Trường Úc (nay thuộc xã Phước Nghĩa, huyện Tuy Phước), rồi tại cầu Phong Niên (xã Phước Lộc, huyện Tuy Phước). Hai bên giao tranh ác liệt, ông bị thương, phải bỏ thành, rút quân về Phú Phong (nay thuộc huyện Tây Sơn). Tháng 9 năm 1885, ông mất, giao quyền lãnh đạo cho tân khoa Mai Xuân Thưởng.

 

– Nguyễn Duy Cung (阮 維 恭; 1839 – 1885) đỗ Á nguyên (2/15) khoa Mậu Thìn (1868), người thôn Vạn Tượng, huyện Chương Nghĩa [3], tỉnh Quảng Ngãi; sau là thôn Vạn Tượng, xã Nghĩa Dõng [4], huyện Tư Nghĩa; nay thuộc thành phố Quảng Ngãi. Ông từ bỏ chức Án sát Bình Định, gia nhập cuộc ứng nghĩa Cần Vương ở tỉnh này, làm tham mưu cho nguyên Tổng đốc Đào Doãn Địch.

– Mai Xuân Thưởng (梅 春 賞; 1860 – 1887), đỗ Cử nhân thứ 7/8 khoa Ất Dậu (1885), người làng Phú Lạc, tổng Thời Hòa, huyện Tuy Viễn, phủ An Nhơn, tỉnh Bình Định; nay là thôn Phú Lạc, xã Bình Thành, huyện Tây Sơn (quận Bình Khê cũ). Ông là lãnh tụ Cần Vương của tỉnh nhà, có óc tổ chức, có tài thao lược. Từ hai bàn tay trắng, tiếp nhận 600 quân của Đào Doãn Địch, ông đã phát triển thành lực lượng kháng chiến hùng hậu, với các chiến khu vững chắc như Lộc Đỗng, Linh Đỗng và thứ Hương Sơn.

– Nguyễn Trọng Trì (阮 仲 持; 1854 – 1922), đỗ Cử nhân thứ 8/12 khoa Bính Tý (1876), người thôn Vân Sơn, tổng Thời Đôn, huyện Tuy Viễn, phủ An Nhơn; nay là thôn Vân Sơn, xã Nhơn Hậu, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định. Ông giữ chức Hiệp trấn thứ Hương Sơn trong lực lượng Cần Vương của Mai Xuân Thưởng.

– Võ Phong Mậu (武 風 茂), đỗ Cử nhân thứ 5/15 khoa Quý Dậu (1873), người thôn Kiên Phụng, tổng Thời Hòa, huyện Tuy Viễn, phủ An Nhơn, tỉnh Bình Định; nay là thôn Thuận Hạnh, xã Bình Thuận, huyện Tây Sơn (quận Bình Khê cũ), tỉnh Bình Định. Ông giữ chức Tham trấn thứ Hương Sơn, trong lực lượng của Mai Xuân Thưởng.

– Lê Thành Phương (黎成方; 1825 – 1887), đỗ Tú tài khoa Ất Mão (1855), người làng Mỹ Phú, tổng An Vinh, huyện Đồng Xuân, phủ Tuy An; nay thôn Mỹ Phú thuộc xã An Hiệp, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. Ông là thủ lãnh Cần Vương nổi tiếng nhất của tỉnh nhà, bản doanh đặt tại đèo Quán Cau, thuộc huyện Tuy An.

– Nguyễn Khanh (阮 卿), đỗ Tú tài, cùng với Trần Đường, Trịnh Phong ứng nghĩa Cần Vương ở Khánh Hòa. Ông được phong Tán tương Quân vụ, đóng quân tại trung tâm tỉnh, lo việc tuyển quân và tiếp tế lương thực cho hai mặt trận phía Bắc và phía Nam của tỉnh.

2 – Tham gia Phong trào Duy Tân:

Việc chống sưu kháng thuế ở Miền Trung năm 1908, các thủ lãnh và ban chỉ đạo của phong trào phần lớn đều xuất thân từ Trường thi Bình Định.

a/ Ở Quảng Ngãi có:

– Lê Tựu Khiết (黎 就 潔; 1857 – 1908), thường gọi Lê Khiết, hay Bố Khiết (vì từng làm Bố chánh tỉnh Nghệ An), đỗ Cử nhân thứ 9/11 khoa Nhâm Ngọ (1882), người thôn An Ba, xã Hành Thịnh, huyện Nghĩa Hành. Giặc khép tội Bố Khiết lãnh đạo Phong trào Chống Sưu Thuế tại tỉnh nhà. Ngày 23- 4- 1908 (tức ngày 23- 3- Mậu Thân), Ông cùng Nguyễn Bá Loan, Trần Chót, Trần Văn Đến bị xử chém tại bãi Nam sông Trà Khúc, thuộc địa phận làng Ba La, phủ Tư Nghĩa.

– Nguyễn Sủy (阮 揣; 1878 – 1916) đỗ Cử nhân thứ 9/18 khoa Quý Mão (1903), người thôn Hổ Tiếu, huyện Chương Nghĩa; nay thôn Hổ Tiếu thuộc xã Tư Nguyên, huyện Tư Nghĩa. Án khổ sai 9 năm, đày Côn Đảo. Năm 1916, tham gia cuộc khởi nghĩa Duy Tân, việc bại lộ, ông tự sát trong ngục [5].

– Lê Đình Cẩn (黎 廷 瑾; 1870 – 1914), đỗ Cử nhân thứ 3/18, cùng khoa với Nguyễn Sủy. Ông người thôn Hòa Vinh, huyện Chương Nghĩa; sau thuộc xã Nghĩa Dõng, huyện Tư Nghĩa; nay thuộc thị xã Quảng Ngãi. Ông bị án đày Di Lăng, rồi Côn Đảo.

– Nguyễn Đình Quản (阮 廷 管; 1878 – 1910), đỗ Cử nhân thứ 14/18 khoa Đinh Dậu (1897), nguyên quán thôn Phong Niên, xã Tịnh Phong, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Ông bị án chém, cải đày Côn Đảo và chết ở đó.

– Nguyễn Mân (阮 旻), đỗ Cử nhân thứ 15/18, cùng khoa với Nguyễn Đình Quản, người thôn Kim Giao, tỉnh Quảng Ngãi, bị án đày Côn Đảo.

Các Tú tài người Quảng Ngãi, tham gia tích cực Phong trào Kháng thuế Cự sưu tại tỉnh nhà gồm có: Phạm Cao Chẩm, người làng Xuân Phổ (nay thuộc xã Nghĩa Kỳ, huyện Tư Nghĩa), và Nguyễn Tuyên, án khổ sai 9 năm đày Côn Đảo; Nguyễn Thoa, án khổ sai 9 năm.

b/ Ở Bình Định có:

– Hồ Sĩ Tạo (胡 士 造; 1869 – 1934), đỗ Cử nhân thứ 3/17 khoa Tân Mão (1891), và năm Giáp Thìn (1904) đỗ Tiến sĩ. Người làng Hòa Cư, tổng Thời Đôn, huyện Tuy Viễn, phủ An Nhơn, tỉnh Bình Định; nay là thôn Hòa Cư, phường Nhơn Hưng, thị xã An Nhơn. Ông bị án trảm quyết, cải trảm giam hậu khổ sai chung thân.

– Lê Truân (黎 諄) [6], đỗ Giải nguyên (1/24) khoa Bính Ngọ (1906), lúc 23 tuổi; người thôn Thanh Lương, huyện Hoài Ân, phủ Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định; nay thuộc xã Ân Tín, huyện Hoài Ân. Ông bị án xử 100 trượng, đày 3000 dặm, cải khổ sai 9 năm.

– Nguyễn Du (阮 攸), đỗ Cử nhân thứ 6/18 khoa Đinh Dậu (1897), nguyên Cung phụng, sĩ bổ; người thôn Đại Thuận, tổng Trung Bình, huyện Phù Mỹ, phủ Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định [7]; nay là thôn Đại An, xã Mỹ Hiệp, huyện Phù Mỹ. Ông bị án xử 80 trượng, cách hết phẩm hàm chỉ còn bằng Cử nhân.

– Lê Phổ (黎 譜), đỗ Cử nhân thứ 6/18 khoa Đinh Mão (1867), Chưởng ấn hồi hưu, người thôn Dương Minh, tổng Vân Dương, phủ Tuy Phước; nay là thôn Dương Xuân, xã Nhơn Hạnh, thị xã An Nhơn. Ông bị án xử 70 trượng, giáng 2 cấp.

– Nguyễn Hân (阮 欣), đỗ Á nguyên (2/8) khoa Ất Dậu (1885), người thôn Phú Đa [8], huyện Phù Mỹ. Chiếu luật “bất ưng vi trọng” ông bị án xử 80 trượng.

– Trần Tuyên (陳 宣), đỗ Cử nhân thứ 17/18 khoa Đinh Dậu (1897), nguyên Tu soạn, sĩ bổ; người thôn Phụng Du, tổng Thượng, huyện Bồng Sơn, phủ Hoài Nhơn; nay Phụng Du thuộc xã Hoài Hảo, huyện Hoài Nhơn. Ông bị án xử 80 trượng, giáng 3 cấp.

– Trần Hoán (陳 奐), đỗ Cử nhân thứ 4/24 khoa Bính Ngọ (1906), người thôn Ngọc An, tổng Thượng, huyện Bồng Sơn, phủ Hoài Nhơn; nay thôn Ngọc An thuộc xã Hoài Thanh Tây, huyện Hoài Nhơn. Ông bị giải chức, giam cứu.

Các vị Tú tài tham gia phong trào gồm:

– Ở phủ Hoài Nhơn, huyện Phù Mỹ có Nguyễn Phác người thôn Dương Liễu, Hoàng Tăng Huy và Lê Cương người thôn An Lương, Bùi Trọng Hướng người thôn Bình Long; huyện Phù Cát có Đỗ Phác người thôn Chánh Hội.

– Ở phủ An Nhơn, huyện Tuy Viễn có Bùi Phiên Dư và Nguyễn Thanh người thôn Hòa Cư, Đặng Thành Tích người thôn Đại Bình; huyện Bình Khê (nay là huyện Tây Sơn) [9] có Đào Toại người thôn Phú Phong.

– Ở phủ Tuy Phước (trực tiếp coi 4 tổng, không có huyện) có Võ Văn Du người thôn Tùng Giản, Nguyễn Đại Hưng người thôn Đại Thạnh, Nguyễn Duy Viên người thôn Liêm Lợi.

Các vị Tú tài này (12 người) tham gia lãnh đạo Phong trào Chống sưu kháng thuế, bị Bùi Xuân Huyến, Tổng đốc tỉnh Bình Định, đề nghị mức án từ trảm lập quyết, giảo giam hậu đến phạt trượng rồi đày Côn Đảo.

3 – Các đóng góp khác:

a/ Danh nhân văn hóa:

Trường thi Bình Định đã cống hiến một danh nhân văn hóa: ĐàoTấn (陶 進; 1845 – 1907), đỗ Cử nhân thứ 8/15 khoa Đinh Mão (1867), người thôn Vinh Thạnh, tổng Thời Tú, huyện Tuy Phước, phủ An Nhơn, tỉnh Bình Định; nay là thôn Vinh Thạnh 2, xã Phước Lộc, huyện Tuy Phước. Ông vừa là nhà thơ, nhà văn, vừa là nghệ sĩ viết tuồng, nhà lý luận sân khấu. Nói đến nhân tài của tỉnh, người đời thường nhắc: “Bình Định có hai ông vua, Quang Trung vua võ, Đào Tấn vua văn.”

b/ Nhà thủy lợi:

Trường thi Bình Định là nơi xuất thân của hai nhà thủy lợi:

– Đào Trọng Tập (陶 仲 緝; 1876 – 1934), còn gọi là Trấp [10], đỗ Cử nhân thứ 17/18 khoa Quý Mão (1903), người thôn Vinh Thạnh, tỉnh Bình Định. Khoảng năm 1920, ông khai tạo Khẩu Tư còn gọi là khẩu mới Lưu Phật Tĩnh ở thôn Phú Mỹ xã Phước Lộc, đem nước vào đồng ruộng mênh mông của hai xã Phước Lộc và Phước Nghĩa huyện Tuy Phước. Từ đấy, cánh đồng trở nên trù phú, cấy được hai vụ, khỏi phải cầu mong nước trời.

– Đặng Cao Đệ (鄧 高 弟; 1869 – ?) đỗ Cử nhân thứ 9/12 khoa Canh Tý (1990), người thôn Kỳ Sơn, xã Phước Sơn, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Khoảng năm 1930, ông cùng Quang lộc Tự khanh Đào Trọng Trấp (trước là Tập) ở thôn Vinh Thạnh, và nhân sĩ Tô Văn Phong ở thôn Công Chánh, xã Phước Nghĩa, đắp phân thủy bờ bạn Thông Chín ở làng Tấn Lộc (xã Phước Lộc), lấy nước dồi dào cho các khẩu trên bờ bạn.

c/ Các nhà canh tân:

Trường thi Bình Định còn là nơi xuất thân của các nhà canh tân, ngấm ngầm hoài bão làm giàu đất nước, mở mang dân trí, giúp học sinh giỏi của tỉnh nhà du học. Họ lập ra Phước An Thương Hội, quy tụ các nho sĩ Bình Định:

– Lê Doãn Sằn (黎 允 莘; 1877 – ?), đỗ Cử nhân thứ 7/15 khoa Nhâm Tý (1912), người thôn An Cửu, nay thuộc xã Phước Hưng, huyện Tuy Phước, giữ chức Hội trưởng.

– Trần Trọng Giải (陳 仲 解; 1884 – 1946), đỗ Tú tài khoa Ất Mão (1915), người thôn Cảnh Vân (nay là Cảnh An), xã Phước Thành, huyện Tuy Phước, giữ chức Hội phó.

– Hồ Sĩ Tạo (học vị và quê quán đã nói trên) được mời làm Cố vấn danh dự.

– Đào Phan Duân (học vị và quê quán sẽ đề cập trong phần các bậc đại khoa) sáng lập viên, giữ chức Cố vấn sáng lập.

– Tú tài Lâm Thúc Mậu (林 叔 茂) ở thôn Nhơn Ngãi, nay thuộc xã Nhơn Phúc, thị xã An Nhơn, Ban kiểm sát.

– Cử nhân Đào Trọng Tập, còn gọi là Trấp [11] (học vị và quê quán đã nói trên), hội viên cổ đông.

– Tú tài Đặng Cao Hối (鄧 高 誨) ở thôn Kỳ Sơn, huyện Tuy Phước, hội viên.

– Tú tài Thái Lập Kính (蔡 立 敬) ở thôn Phụ Ngọc, nay thuộc xã Nhơn Phúc, thị xã An Nhơn, hội viên.

d/ Các bậc Đại khoa:

Sau cùng trường thi Bình Định cũng là nơi khởi đầu của các bậc đại khoa như:

– Kiều Tòng (喬 從), đổi là Kiều Lâm (喬 林; 1825 – ?), người thôn An Đại, huyện Chương Nghĩa; nay An Đại chia thành 4 thôn Đại An, thuộc xã Hành Thuận, huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi. Ông đỗ Á nguyên (2/13) khoa Ất Mão (1855), đậu Tiến sĩ khoa Nhâm Tuất (1862), làm quan tới chức Bang biện Ngãi Định.

– Phạm Văn Hành (范 文 衡; 1847 – ?) người thôn Thuận Phước, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi; nay là xã Bình Phước, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Ông đỗ Giải nguyên (1/12) khoa Bính Tý (1876), đậu Phó bảng khoa Đinh Sửu (1877), chưa kịp làm quan.

– Đỗ Quân (杜 筠 ; 1869 – ?) người thôn Châu Sa, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi; sau thuộc xã Tịnh Châu, huyện Sơn Tịnh; nay thuộc phường Trương Quang Trọng, thành phố Quảng Ngãi. Ông đỗ Á nguyên (2/17) khoa Tân Mão (1891), đậu Hội nguyên Tiến sĩ khoa Ất Mùi (1895). Ông là cháu nội của Phó bảng Đỗ Đăng Đệ.

– Hồ Sĩ Tạo (胡 士 造; 1869 – 1934), đã nói ở phần trên.

– Đào Phan Duân (陶 潘 均; 1864 – 1947) người thôn Biểu Chánh, nay thuộc xã Phước Hưng, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định, đỗ Cử nhân thứ 6/19 khoa Giáp Ngọ (1894), đậu Phó bảng năm Ất Mùi (1895) lúc 31 tuổi. Làm quan đến chức Tuần phủ, lấy đức giáo hóa dân, không chịu sự xúc phạm của viên Công sứ Khánh Hòa, ông cãi lại rồi xô ghế bỏ quan về nhà, sáng lập Phước An Thương Hội, giữ chức cố vấn tối cao.

IV – SĨ TỬ TRANH TÀI

1 – Tranh đoạt thủ khoa phản ánh qua ca dao:

Mặc dù thường xuyên có sĩ tử của năm tỉnh dự thi, nhưng chỉ có Quảng Ngãi và Bình Định tranh nhau thủ khoa. Suốt ba khoa thi đầu là Nhâm Tý (1852), Ất Mão (1855) và Mậu Ngọ (1858), Giải nguyên đều về tay người Bình Định, đó là Cao Văn Tuấn người thôn Thắng Công, huyện Tuy Viễn, nay thuộc xã Nhơn Phúc, huyện An Nhơn (khoa 1); Nguyễn Đăng Tuyển người thôn Chánh Trạch, huyện Phù Mỹ (khoa 2); Nguyễn Duy Lộc người thôn Xuân An, huyện Phù Cát (khoa 3). Sự bất quá tam, Bình Định đoạt thủ khoa 3 lần, trong khi Quảng Ngãi cố tranh sát nút nhưng chỉ đỗ Á nguyên ba lần, đó là Phan Văn Điển người thôn An Thổ, huyện Mộ Đức (khoa 1), Kiều Tòng người thôn An Đại, huyện Chương Nghĩa (khoa 2); Phạm Thúc người thôn Trà Bình, huyện Bình Sơn (khoa 3). Sự việc ấy còn ghi lại trong câu ca dao của vùng:

Tiếc công Quảng Ngãi đường xa

Để cho Bình Định thủ khoa ba lần.

Đến khoa thứ 4, năm Đinh Mão (1867), Bình Định chẳng những đoạt cả Giải nguyên, Á nguyên, đó là Lê Đăng Đệ và Nguyễn Tạo cùng ở huyện Phù Cát; mà còn chiếm liên tục đến hạng 8, Quảng Ngãi chỉ chen được vị thứ 9, rồi liên tục từ 10 đến 13 lại là người Bình Định, lập thành tích Bình Định 14, Quảng Ngãi 4.

Bị thua liên tiếp 4 khoa, sĩ tử Quảng Ngãi quyết tâm vùng lên. Họ đã thành công rực rỡ ở hai khoa liền (5 và 6) mang lại vinh dự cho tỉnh nhà. Đó là khoa Mậu Thìn (1868), Nguyễn Luật người thôn Mỹ Khê, huyện Bình Sơn, đoạt Giải nguyên và Nguyễn Duy Cung người thôn Vạn Tượng, huyện Chương Nghĩa, chiếm Á nguyên. Tiếp khoa Canh Ngọ (1870), Trương Đăng Tuyển người thôn Phú Nhơn, huyện Bình Sơn và Phạm Viết Duy người thôn Chánh Mông, huyện Chương Nghĩa, đoạt cả giải nhất nhì và Quảng Ngãi còn vượt trội tỷ số đậu. Lúc bấy giờ ca dao có câu:

Tiếc công Bình Định xây thành

Để cho Quảng Ngãi vô giành thủ khoa [12].

Sau đó, Bình Định và Quảng Ngãi còn liên tiếp tranh nhau ngôi thứ và tỷ số thêm 17 khoa nữa, cho đến khi chấm dứt vào năm 1918.

2 – Tinh thần đua tranh của sĩ tử các tỉnh:

Trong các khoa thi ở Trường Bình Định, hai khoa Tân Mão (1891), lần thứ 14 và Giáp Ngọ (1894) lần thứ 15 là vui vẻ nhất vì cả năm tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa và Bình Thuận (lúc đó chưa lập tỉnh Ninh Thuận) đều có người thi đỗ Cử nhân, còn hai giải nhất nhì chia đều cho Bình Định và Quảng Ngãi. Dù vậy, vẫn có câu: “Một tỉnh Khánh Hòa không bằng một nhà Hưng Lạc,” bởi khoa Giáp Ngọ (1894), ở Bình Định tại thôn Hưng Lạc (thời Minh Mạng gọi là Hưng Long) xã Mỹ Thành, huyện Phù Mỹ có nhà họ Đinh, cha con cùng thi và cùng đỗ Cử nhân. Cha là Đinh Hữu Quang, 52 tuổi, đậu thứ 13/19; con là Đinh Trọng Cát, 22 tuổi, đỗ thứ 15/19; cũng khoa đó, Khánh Hòa chỉ đậu có 1 người ở hạng thứ 19/19, là Phạm Tấn, người huyện Tân Định.

Thế nhưng trong Nước Non Bình Định, nơi trang 345, Quách Tấn lại chép:

“Ở làng Xuân Quơn, quận Tuy Phước, một nhà ba anh em đi thi đều đỗ cả ba, hai cử một tú. Khoa ấy ở Khánh Hòa ra thi chỉ đỗ một Cử nhân. Cho nên có câu: Một tỉnh Khánh Hòa không bằng một nhà Xuân Quơn.” (gọi trại từ Xuân Quang)

Căn cứ vào Quốc Triều Hương Khoa Lục của Cao Xuân Dục, khoa Canh Ngọ (1870), Tự Đức Thứ 23, Trường thi Bình Định lấy đỗ 16 Cử nhân, gồm: 8 người Quảng Ngãi, 7 người Bình Định và 1 người Phú Yên. Trong 7 người Bình Định, có Nguyễn Kỳ đỗ thứ 4/16, Nguyễn Toản đỗ thứ 5/16, là anh em ruột ở làng Xuân Quang, huyện Tuy Phước (nay làng này thuộc thành phố Qui Nhơn), và đỗ khoa ấy không ai là người tỉnh Khánh Hòa. Vậy làng Xuân Quang, anh em cùng đỗ là thật, nhưng không có việc “khoa ấy ở Khánh Hòa ra thi chỉ đậu một Cử nhân.”

Quảng Ngãi cũng có trường hợp tương tự, vào khoa Mậu Thìn (1868), trường thi Bình Định tuyển 15 Cử nhân, gồm 8 người Bình Định và 7 người Quảng Ngãi, các tỉnh khác không ai đỗ. Ở thôn Vạn Tượng, huyện Chương Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi, nay thuộc thị xã Quảng Ngãi, có anh em cùng đỗ cao, em là Nguyễn Duy Cung đoạt Á nguyên (2/15), anh là Nguyễn Tấn Phó trúng hạng 4/15.

3 – Thử tài thủ khoa:

Những câu ca dao trên phản ảnh phần nào tinh thần tranh đua của sĩ tử thời xưa; không những họ tranh đua trong khoa cử, mà còn cả tranh luận văn chương để thử tài nhau. Theo Quách Tấn, Nước Non Bình Định, một hôm trong quán nước, ông tân khoa Quảng Ngãi gặp ông thủ khoa Bình Định, liền buông lời trêu chọc. Nhân trong quán có thờ Cửu Thiên Huyền Nữ (vị nữ thần đời thượng cổ Trung Hoa đã truyền dạy binh pháp), trước trang thờ có câu đối “Trạc trạc quyết linh, Dương dương tại thượng” (濯 濯 厥 靈, 洋 洋 在 上), vị tân khoa liền quay về phía vị thủ khoa, ra câu đối: “Trạc trạc quyết linh, anh thấy em xinh, dương dương hồ tại thượng.

Vế ra này vừa mượn cảnh vừa mượn chữ sẵn có trước mặt, đòi hỏi vế đối cũng phải thỏa các điều kiện ấy nên không dễ gì trong phút chốc mà đối được.

Liền khi ấy, một người khách đang ngồi trong quán lên tiếng: “Tôi là kẻ thi rớt mà còn thấy câu đối ấy quá dễ, không xứng tài của ngài thủ khoa, nên tôi xin đối thế.”

Nói xong, người ấy hối chủ quán đem món nhậu ra để gợi hứng, vừa để tạo cảnh, tạo chữ cho vế đối. Chủ quán vội chạy đi lấy rượu, và gọi vợ bưng đồ nhậu lên gấp. Người vợ ở trong bếp, nghe tiếng chồng hối thúc, liền dạ lớn để chồng yên tâm.

Tiếng “dạ” vừa dứt, người “thi rớt” liền ứng khẩu đối ngay: “Cấp cấp bất hạ, chồng kêu vợ dạ, đản đản kỳ nhiên tai.

H 4: Lễ xướng danh thi Hương.

(Nguồn: Hình Ảnh Xưa Việt Nam)

Vừa nghe xong vế đối, vị tân khoa sửng sốt, nhìn kỹ lại, đoán biết ngay người ấy không ai khác hơn là Phạm Trường Phát, một danh sĩ của Bình Định. Quả thật ông thi rớt nhiều lần, không phải vì học kém mà chính bởi hay chữ quá thành cuồng sĩ. Khoa nào ông cũng đi thi, làm bài xong, đọc lại thấy đoạn nào vừa ý, lấy bút khuyên trước “chứ để quan trường khuyên uổng,” thành ra quyển thi đầy lỗi thiệp tích, làm sao đỗ được!

V – MỘT THỜI ĐÃ QUA

Những ngày huy hoàng của nền Nho học rồi cũng tắt. Ngày 21- 12- 1917, Toàn quyền Đông Dương Albert Sarraut ra nghị định ban hành “Quy chế chung về ngành giáo dục ở Đông Dương,” thường gọi là “Học Chính Tổng Quy,” áp dụng nền giáo dục Pháp Việt trên toàn cõi Đông Dương. Ở Miền Bắc, sau khoa Ất Mão (1915) là chấm dứt nền Nho học. Còn ở Miền Trung, gắng gượng một kỳ thi Hương nữa, tức khoa Mậu Ngọ (1918), rồi cũng vĩnh viễn cáo chung. Trường thi Bình Định, mới có 68 tuổi đời (1850 – 1918), cũng chịu chung số phận như các trường thi khác!

Đã một thời, trường thi này cũng cờ lọng rợp trời, đi đầu là cờ biển vua ban, biểu tượng cho quyền hành và chức vụ của Hội đồng Giám khảo. Có hai thớt voi đi kèm, đầy đủ yên bệ, đoàn quân nhạc rập rình xen lẫn tiếng trống, tiếng cồng, vang dội một vùng. Các quan trường triều phục chỉnh tề ngồi trên kiệu, có lính hầu, tàn che, lọng rủ. Còn sĩ tử, từ nửa đêm đã vác lều chõng đứng đợi gọi tên vào vi dành cho thí sinh.

Ngày xướng danh còn long trọng hơn nữa. Trên khán đài có đủ mặt hội đồng quan trường và các quan lớn nhỏ thuộc vùng đến dự. Các sĩ tử, cùng thân nhân, bè bạn, đến nghe xướng danh đứng chật khán đài.

Trên chòi cao, vị Truyền lệnh sứ bắc loa gọi từng người đỗ Cử nhân, đủ cả tên họ, tuổi tác, quê quán.

Chẳng hạn, khoa thi Hương năm Kỷ Dậu (1909), tại trường thi Bình Định, ông Lê Trình Thoại, 44 tuổi, người làng Kim Sơn, huyện Bồng Sơn, tỉnh Bình Định, đỗ Giải nguyên (1/16). Vị Truyền lệnh sứ xướng danh là: “Cử nhân Đệ Nhất danh Lê Trình Thoại, niên canh tứ thập tứ tuế, quán tại Kim Sơn xã, Bồng Sơn huyện, Bình Định tỉnh.”

Từ trong đám đông, vị thủ khoa lên tiếng “dạ” lớn, lách mình tiến đến khán đài trình diện, rồi được ban áo mão cân đai và tàn lọng, trước sự trầm trồ ngưỡng mộ của mọi người.

Xong, tiếp tục xướng danh: Cử nhân Đệ Nhị danh…, rồi Cử nhân Đệ Tam danh…

Nếu trong lễ xướng danh, tân khoa được rạng rỡ tại trường thi, thì lễ vinh quy bái tổ lại được mở mày mở mặt tại quê nhà. Theo lệ, người đỗ Tú tài được cấp làng đón rước, đậu Cử nhân được hàng tổng đón rước. Khi về tới địa giới của quê quán, vị tân khoa được hàng chức sắc và dân chúng ứng trực sẵn để đưa về tận nhà. Đám rước đông đảo, long trọng, cờ mở trống giong, tiền hô hậu ủng, “ngựa anh đi trước, võng nàng theo sau.”

Thi đỗ, không những bản thân vị tân khoa được vinh dự mà thầy dạy học, cha mẹ, vợ con và họ hàng cũng được vẻ vang. Đúng với câu trong Tam Tự Kinh đã ghi: “dương thanh danh, hiển phụ mẫu” (揚 聲 名,顯父母). Vì vậy, sự mến chuộng học hành đã trở thành truyền thống của dân tộc. Quan niệm “nhất sĩ nhì nông” đã ăn sâu vào lòng người, thể hiện qua câu ca dao:

Chẳng tham ruộng cả ao liền,

Tham vì cái bút cái nghiên anh đồ.

H 5: Quan tỉnh đãi yến các tân khoa.

(Nguồn: Hình Ảnh Xưa Việt Nam)

Dân chúng cũng trọng khoa (đỗ đạt, học vị) hơn hoạn (làm quan), như trường hợp ông Cử Nhì Trần Đình Thoại (tức Trần Đình Phu) ở làng Thuận Thái (nay thuộc xã Nhơn An, thị xã An Nhơn), nhà có hai anh em đều đỗ Cử nhân. Ông đậu Á nguyên (2/18) khoa Nhâm Tý (1912) nhưng từ chối không ra làm quan dưới thời Pháp thuộc. Tuy vậy, dân chúng vẫn nhất mực xin gọi bằng quan. Và được nhà họ Lê, giàu có danh giá nhất làng Thanh Giang (nay thuộc xã Nhơn Phong, thị xã An Nhơn), kêu gả con với của hồi môn 100 công cấy ruộng [13], tức 20 mẫu ta.

Thời ấy, mỗi khoa thi kéo dài hơn một tháng. Người dự thi, kẻ đi xem, thêm gia nhân và quyến thuộc lên đến hàng vạn người. Quán xá tuy chỉ dựng tạm thời nhưng rộ như nấm mọc. Trong những ngày ấy, con đường từ phường Nhơn Hòa về thành Bình Định đến chợ Gò Chàm qua lối bến đò Trường Thi, trở nên phức tạp. Chàng trai phải đưa người yêu của mình tới tận bến sông, đợi nàng bước lên đò, mới yên tâm trở về nhà, vì:

Đưa em cho tới bến đò,

Kẻo em thơ dại, “học trò” phỉnh em.

(Ca dao)

Đó là khúc sông ôm choàng lấy thôn Hòa Nghi, một đoạn hình vòng cung trên dòng Nam phái sông Côn, mang tên Trường Thi; với bến đò Trường Thi cát trải vàng óng, nước sông trong xanh, đò ngang thưa khách. Phong cảnh nên thơ ấy, gợi cảm hứng cho nhà thơ Yến Lan (quê ở thành Bình Định) sáng tác bài Bến My Lăng, một thời nổi tiếng:

Bến My lăng nằm không, thuyền đợi khách

Rượu hết rồi ông lái chẳng buồn câu.

Trăng thì dày rơi vàng trên mặt sách,

Ông lái buồn để gió lén mơn râu…

H 6: Sông Trường Thi.

(Ảnh: Trần Quang Kim, Cuongde.org)

Thời huy hoàng ấy đã qua rồi! Dấu vết Trường thi Bình Định cũng đã phai mờ theo năm tháng. Các vị Cử nhân và Tú tài Nho học xuất thân từ trường này, dù ở khoa cuối cùng, cũng không một ai còn sống. Ngày nay, nếu không có người chỉ dẫn, không ai có thể biết được nơi đây, ngày xưa, chỉ mới 77 năm trước (1918 – 1995), còn là một cái nền khổng lồ vuông vức. Và cứ mỗi ba năm một lần, triều đình tập hợp thí sinh sáu tỉnh [14] về đây để tuyển chọn hiền tài.

San Jose, ngày 30- 10- 1995

Bổ chính lần 4: 25- 12- 2013

ĐÀO ĐỨC CHƯƠNG

GHI CHÚ

[1] Trường thi Bình Định là trường cấp vùng, như Nam Định, Thanh Hóa, Nghệ An, Gia Định…, dùng để tổ chức thi Hương, lấy đỗ Cử nhân và Tú tài. Thời Nho học, chỉ ở Kinh đô mới mở thi Hội và thi Đình để lấy Tiến sĩ và phân Tam giáp, Tam khôi.

[2] Dương Kinh Quốc; Việt Nam Những Sự Kiện Lịch Sử 1858 – 1918 (Hà Nội, nxb Giáo Dục tái bản, 2001); trang 271:

– Ngày 20 tháng 5 năm 1901 Quyền Toàn quyền Đông Dương là Broni ký nghị định thành lập tỉnh Phan Rang, gồm phủ Ninh Thuận, huyện An Phước, huyện Tân Khai, đều được tách ra từ tỉnh Khánh Hòa. Tỉnh lỵ là Phan Rang.

– Ngày 9 tháng 2 năm 1913, Toàn quyền Đông Dương là Sarraut, Albert ký nghị định giải thể tỉnh Phan Rang, phần đất phía Bắc của tỉnh sáp nhập vào Khánh Hòa, phần đất phía Nam sáp nhập vào tỉnh Bình Thuận.

– Ngày 5 tháng 7 năm 1922, Toàn quyền Đông Dương là Long, Maurice ký nghị định tái lập tỉnh Phan Rang, gồm phủ Ninh Thuận và huyện người Chàm cư trú là An Phước. Vì vậy, Phan Rang còn được gọi là tỉnh Ninh Thuận.

[3] Cao Xuân Dục, Quốc Triều Hương Khoa Lục, Nguyễn Thúy Nga và Nguyễn Thị Lâm dịch (Sài Gòn, nxb TP/ HCM, 1993), trang 399: Nguyễn Duy Cung ở huyện Chương Nghĩa (nay là Tư Nghĩa). Nhưng theo Nguyễn Q. Thắng và Nguyễn Bá Thế, Từ Điển Nhân Vật Lịch Sử Việt Nam (Sài Gòn, nxb Khoa Học Xã Hội, 1992), trang 509: Ông ở huyện Sơn Tịnh.

[4] Trước năm 1981, Nghĩa Dõng thuộc huyện Tư Nghĩa. Từ ngày 24- 8- 1981, Quyết Định số 41- HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng, ba xã của huyện Tư Nghĩa là Nghĩa Dõng, Nghĩa Lộ, Nghĩa Chánh (trừ xóm La Tà nhập vào xã Nghĩa Thương, huyện Tư Nghĩa) sáp nhập vào thị xã Quảng Ngãi và thuộc xã ngoại thành (Nguyễn Quang Ân; Việt Nam Những Thay Đổi Địa Danh Và Địa Giới Các Đơn Vị Hành Chính 1945 – 1997; trang 312).

[5] Các bản án, căn cứ vào Châu Bản Triều Duy Tân, trong cuốn Phong Trào Kháng Thuế Miền Trung của Nguyễn Thế Anh, và bổ túc bởi nhiều tài liệu khác.

[6] Tên của ông, theo Quốc Triều Hương Khoa Lục (bản dịch, trang 596) chép là “Lê Truân”; theo Phong Trào Kháng Thuế Miền Trung năm 1908 Qua Các Châu Bản Triều Duy Tân (bản dịch, trang 72), chép là “Lê Chuân.”

[7] Nguyễn Thế Anh, Phong Trào Kháng Thuế Miền Trung năm 1908 Qua Các Châu Bản Triều Duy Tân (Sài Gòn, Bộ Văn Hóa Giáo Dục và Thanh Niên xuất bản, 1973), trang 92, ghi là “thôn Phú Nông, phủ Hoài Nhơn.”

[8] Quốc Triều Hương Khoa Lục, bản dịch, trang 484, và Phong Trào Kháng Thuế Miền Trung Năm 1908 Qua Các Châu Bản Triều Duy Tân, trang 93, đều chép: “Nguyễn Hân ngưòi thôn Phú Đa, huyện Phù Mỹ.” Không rõ trước năm 1945 thuộc tổng nào, và nay thuộc xã nào của huyện.

[9] Năm 1906, đời Thành Thái (1889 – 1907), tỉnh Bình Định thành lập thêm 1 phủ và 1 huyện nữa, được điều chỉnh lại như sau (Nguyễn Đình Đầu; Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn Bình Định I; Sài Gòn, nxb TP/HCM, 1996; Tập I, trang 128 – 129)

a/ Phủ Hoài Nhơn coi 4 huyện ở phía Bắc của tỉnh: huyện Bồng Sơn có 4 tổng với 105 thôn; huyện Hoài Ân, mới thành lập, có 3 tổng với 61 thôn trang; huyện Phù Mỹ có 4 tổng với 123 thôn; huyện Phù Cát có 4 tổng với 127 thôn.

b/ Phủ An Nhơn coi 2 huyện phía Tây của tỉnh: huyện Tuy Viễn ở đồng bằng, có 4 tổng với 93 thôn; huyện Bình Khê ở miền núi, có 4 tổng với 46 thôn trang.

c/ Phủ Tuy Phước ở phía Nam của tỉnh, mới thành lập, nguyên là huyện Tuy Phước thuộc phủ An Nhơn, tách ra và nâng lên thành phủ, coi 4 tổng với 147 thôn trang.

Vậy, khoảng thời gian này, tỉnh Bình Định có 3 phủ, gồm 6 huyện, 26 tổng, 702 thôn và trang.

[10, 11] Nguyên có tên là 陶 仲 緝 (viết theo chữ Nho), đọc đúng là Đào Trọng Tập (viết theo chữ Quốc ngữ), căn cứ vào Quốc Triều Hương Khoa Lục (bản dịch của Nguyễn Thúy Nga, trang 580) và những văn kiện bằng chữ Nho như: Đào Gia Thế Phả Thành Thái Giáp Thìn (1904) Đông Tục Tu (tờ 20b), các sắc phong năm 1918, 1919, 1921, 1926, 1927, còn lưu giữ được, đều viết là: 仲 緝 (Trọng Tập), chữ 緝 (tập) thuộc bộ 纟(mịch).

a/ Thế nhưng, ở Bình Định, người đời quen gọi là Đào Trọng Trấp, đơn cử:

– Cụ Trần Đình Thoại (còn gọi là Trần Đình Phu), Á nguyên khoa Nhâm Tý (1912), người làng Thuận Thái, trong văn kiện Sắc Phong Quang Lộc Tự Khanh (1926), đọc chữ 緝 là “Trấp”:

Nguyên văn: 鴻 矑 寺 卿 休 致 陶 仲 陞 授 光 祿 寺 卿

Đã phiên âm: “Hồng Lô Tự Khanh hưu trí Đào Trọng Trấp thăng thọ Quang Lộc Tự Khanh.”

– Ông Trần Đình Diêm (bậc thâm Nho), người làng Tri Thiện, đọc Đào Gia Thế Phả Thành Thái Giáp Thìn (1904) Đông Tục Tu, cũng gọi chữ 緝 là “Trấp”:

Nguyên văn: 擧 人 仲 汝 宣 奉 攷

Đã phiên âm: “Cử nhân Trọng Trấp, Nhữ Tuyên phụng khảo.”

b/ Thêm vào đó, các văn kiện quan trọng viết bằng chữ Pháp và quốc ngữ, đều chép là Đào Trọng Trấp:

– Giấy Căn Cước cấp ngày 15- 7- 1924 tại Phan Thiết, bằng chữ Pháp, ghi là: “Nom, prénoms: Đào Trọng Trấp.

– Giấy Chứng Nhận cấp ngày 31- 3- 1926, góp tiền vào công quỹ giúp cho người nghèo, viết bằng chữ Pháp, ghi là: “Certifie que Mr Đào Trọng Trấp, Tri Phủ a versé au Trésor, à titre de Contribution volontaire, une somme de Trois cents francs.” (Chứng nhận rằng ông Đào Trọng Trấp, Tri Phủ, tự nguyện bỏ vào kho bạc một số tiền 300 phạc lăn…)

– Hai văn bản lập tại Huế, một là “Grand Empire d’ Annam” ký ngày 31- 1- 1928, và bản nữa ký ngày 24- 2- 1929, đều chép là Đào Trọng Trấp.

Bản Phân Gia Sản, bằng chữ quốc ngữ, Nguyễn Thị Huệ Quang lập tại làng Vinh Thạnh, ngày 15- 5- 1946, Đỗ Chi chép, trang 1 ghi: “Cố phu tôi là Quang Lộc Tự Khanh Đào Trọng Trấp, làng Vinh Thạnh…”

Vậy, khi viết chữ Nho, phải ghi là “陶 仲 緝” nhưng khi viết tiếng Việt thì nên ghi “Đào Trọng Trấp (còn gọi là Tập).”

c/ Ngoài ra, còn thấy một văn tự ấn ký tại Hà Nội, ngày 28- 12- 1920 lại chép là “Đào Trọng Tiệp”

[12] Quách Tấn, Nước Non Bình Định, trang 337, cho rằng câu “Tiếc công Bình Định xây thành” có trước vì khoa đầu tiên của Trường thi Bình Định, năm Nhâm Tý (1852), người Quảng Ngãi giật thủ khoa. Ba khoa tiếp theo là khoa Ất Mão (1855), Mậu Ngọ (1858), Tân Dậu (1861), ngôi thủ khoa mới về tay người Bình Định nên câu “Tiếc công Quảng Ngãi đường xa” ra đời sau. Lập luận này trái với thực tế (hơn nữa, năm 1861, trường Bình Định không mở thi, sĩ tử phảỉ ra Thừa Thiên dự thí, thủ khoa là Trần Văn Chuẩn ngưòi Thừa Thiên) và không trùng khớp với kết quả thi cử trong Quốc Triều Hương Khoa Lục của Cao Xuân Dục.

[13] Một mẫu ta có diện tích bằng 5 công cấy, tức là phải 5 người thợ cấy làm việc trong một ngày mới xong.

[14] Sáu tỉnh gồm: Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

01/ CAO XUÂN DỤC; Quốc Triều Hương Khoa Lục, Nguyễn Thúy Nga và Nguyễn Thị Lâm dịch; Sài Gòn, nxb TP/ HCM, 1993.

02/ DƯƠNG KINH QUỐC; Việt Nam Những Sự Kiện Lịch Sử (1858 – 1918), tái bản lần thứ nhất; Hà Nội, nxb Giáo Dục, 2001.

03/ ĐÀO TỘC; Đào Gia Thế Phả, Thành Thái Giáp Thìn (1904) đông tục tu; Đào Thụy Thạch phụng thư, Đào Trọng Tập và Đào Nhữ Tuyên phụng khảo.

04/ ĐÀO ĐỨC CHƯƠNG; Những Viên Toàn Quyền Cai Trị Liên Bang Đông Dương; Nguyệt san Làng Văn (Toronto, Canada), số145, tháng 9 năm 1996; trang 32 – 40.

05/ NGÔ ĐỨC THỌ chủ biên và 2 tgk; Các Nhà Khoa Bảng Việt Nam; Hà Nội, nxb Văn Hóa, 1993.

06/ NGUYỄN QUANG ÂN; Những Thay Đổi Địa Danh Và Địa Giới Các Đơn Vị Hành Chính 1945 – 1997; Hà Nội, nxb Văn Hóa – Thông Tin, 1997.

07/ NGUYỄN Q. THẮNG và NGUYỄN BÁ THẾ; Từ Điển Nhân Vật Lịch Sử Việt Nam; Sài Gòn, nxb Khoa Học Xã Hội, 1992.

08/ NGUYỄN THẾ ANH; Phong Trào Kháng Thuế Miền Trung Năm 1908 Qua Các Châu Bản Triều Duy Tân; Sài Gòn, Bộ Văn Hóa Giáo Dục và Thanh Niên, 1973.

09/ NGUYỄN VĂN XUÂN; Phong Trào Duy Tân; Sài Gòn, nxb Lá Bối, 1970.

10/ QUÁCH TẤN; Nước Non Bình Định; Sài Gòn, nxb Nam Cường, 1967.

11/ TOAN ÁNH; Nếp Cũ Con Người Việt Nam, in lần thứ 2; Sài Gòn, Khai Trí xuất bản, 1970.